- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng"
- Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng X:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/DS-ST Ngày: 07-6-2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/- Bà Nguyễn Thị Xuyến
2/- Ông Nguyễn Kiên Hiển
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Mộng Điệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 295/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng X
Trụ sở: Số xx, Đường Y, Phường Z, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số xy, Đường Z, Phường Y Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông N, là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền. (Theo Giấy ủy quyền số 1292/2023/UQ-TGĐ ngày 08/5/2023).
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Y – Sinh năm 1991
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Số xx, Đường N, Phường M, Quận 3, Thành phố
Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 16/9/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng X có ông N là Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền trình bày:
Ngày 23/7/2008, bà Y có ký với Ngân hàng X (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 65.000.000 VNĐ với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.15%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Y đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 228.181.803 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà Y phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Y đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 242.076.305 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước;
+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;
+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ;
+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;
+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Y vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/6/2013 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 48.961.198 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày 10/4/2023, bà Y còn nợ các khoản sau (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt đính kèm): Nợ gốc là 48.961.198 đồng, lãi quá hạn là 189.595.945 đồng. Tổng cộng: 238.557.143 (Hai trăm ba mươi tám triệu, năm trăm năm mươi bảy ngàn, một trăm bốn mươi ba) đồng.
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 48.961.198 đồng với lãi suất quá hạn là 3.225%/tháng (2.15%*150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Y, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ. Tuy nhiên bà Y vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng X yêu cầu Tòa buộc bà Y phải trả làm một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/4/2023 là 238.557.143 (Hai trăm ba mươi tám triệu, năm trăm năm mươi bảy ngàn, một trăm bốn mươi ba) đồng, ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó: Nợ gốc là 48.961.198 đồng, lãi quá hạn là 189.595.945 đồng. Đồng thời, bà Y còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 11/4/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn Ngân hàng X có ông N là Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn bà Y vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân Quận 3, quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án, nhận thấy bị đơn bà Y không thực hiện đúng thỏa thuận tại “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” đã được Ngân hàng phê duyệt ngày 23/7/2008. Nguyên đơn Ngân hàng X khởi kiện bị đơn bà Y là có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng X khởi kiện bị đơn bà Y phải có trách nhiệm thanh toán số nợ do sử dụng thẻ tín dụng Sacombank quốc tế Visa Platinum Cashback theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” được Sacombank phê duyệt ngày 23/7/2008, nên đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng X yêu cầu Tòa án buộc bà Y phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/7/2008 và do Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 3 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thủ tục xét xử vắng mặt:
. Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 07/6/2023, nguyên đơn Ngân hàng X có ông N là Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền xác định: “Vào ngày 23/7/2008, bà Y có ký với Ngân hàng X “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và bản “Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank”. Loại thẻ của bà Yến là thẻ tín dụng Sacombank quốc tế Visa Platinum Cashback, có số thẻ là 472075-1293, hạn mức tín dụng là 65.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn thời gian này là 2.15%/tháng (theo Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế Sacombank). Lãi suất trong hạn sẽ thay đổi theo từng thời kỳ khi có văn bản mới của Ngân hàng quy định. Trước khi khởi kiện bà Y, Ngân hàng đã thực hiện thông báo số tiền nợ sao kê thẻ thông qua Thông báo khởi kiện số ngày 25/5/2022 đồng thời gửi văn bản qua đường bưu điện theo địa chỉ mà bà Y đã cung cấp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (có đính kèm các tài liệu chứng cứ cho việc khởi kiện) thế nhưng bà Y vẫn không thực hiện việc trả nợ. Do đó, Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tại Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa buộc bà Y phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 07/6/2023 là 241.609.857 đồng, trong đó: Nợ gốc là 48.961.198 đồng, lãi quá hạn là 192.648.659 đồng, thanh toán ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, buộc bà Y phải tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 08/6/2023 cho đến khi thanh toán hết dư nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Do thẻ Visa nêu trên bà Y sử dụng với mục đích cá nhân nên Ngân hàng không yêu cầu chồng của bà Y phải cùng trả nợ. Lãi suất quá hạn = 150% x (nhân) với lãi suất trong hạn = 150% x (nhân) với 2.15%/tháng = 3.225%/tháng. (Theo Quyết định 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng X về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Sacombank phát hành tại Việt Nam). Tiền lãi quá hạn =Lãi suất quá hạn x (nhân) với số tiền nợ gốc”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vắng mặt Nguyên đơn.
. Bị đơn bà Y đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt cũng như không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn cho đến nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.
. Về đường lối giải quyết vụ án: Theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” được Ngân hàng phê duyệt ngày 23/7/2008 cho thấy giao dịch dân sự giữa bà Y và Ngân hàng là giao dịch dân sự đang được thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng quy định của Bộ luật này để giải quyết vụ án, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2017 quy định về điều khoản chuyển tiếp.
. Về yêu cầu của Nguyên đơn:
Căn cứ “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” được Ngân hàng phê duyệt ngày 23/7/2008 thì giữa chủ thẻ chính là bà Y và bên phát hành thẻ là Ngân hàng có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa Platinum Cashback với hạn mức sử dụng là 65.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là 2.15%/tháng.
Theo các Bảng tóm tắt sao kê và Sao kê chi tiết giao dịch của bà Y có số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx do Ngân hàng cung cấp thì bà Y kích hoạt thẻ vào ngày 31/7/2008. Bà Y sử dụng thẻ từ 31/8/2008 đến ngày 31/01/2012 và có thanh toán đều cho Ngân hàng đến 30/6/2013 thì ngưng thanh toán. Do bà Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/6/2013 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Thời gian chốt các giao dịch thực hiện trong tháng là vào ngày cuối cùng của mỗi tháng. Thời gian từ ngày 31/7/2008 đến 31/01/2012, số tiền các lần giao dịch mà bà Y đã sử dụng thẻ là 228.181.803 đồng (số tiền gốc). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà Y đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 242.076.305 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng: Ưu tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau. Số tiền thanh toán được thanh toán cụ thể như sau: Phí trễ hạn là 6.992.898 đồng, phí vượt hạn mức là 250.000 đồng, phí thường niên là 3.896.000 đồng, lãi là 244.365.461 đồng. Sau khi trừ hết các khoản trên theo thứ tự thì số tiền gốc còn lại là 48.961.198 đồng. Tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 48.961.198 đồng x (nhân) với lãi suất quá hạn. Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 01/6/2013 đến nay là 192.648.659 đồng, áp dụng theo mức lãi suất quá hạn là 3.225%/tháng (=150% x 2.15%/tháng), căn cứ Quyết định 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 và Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 của Trung tâm thẻ Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín về việc thay đổi mức lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế Sacombank mức lãi suất mới được áp dụng là 2.15%/tháng. Tổng cộng bà Yến còn nợ Sacombank số tiền (tạm tính đến ngày 07/6/2023) là 241.609.857 đồng.
Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;…”
Theo quy định tại Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng X (Đơn vị phát hành thẻ) kèm theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của Ngân hàng:
+ Tại mục Phương thức trả nợ, cụ thể là:
- Tại Điều 18 quy định: “Tất cả các Giao dịch và phí phát sinh phải
được Chủ thẻ thanh toán cho Đơn vị Phát Hành Thẻ vào hoặc trước Ngày
Đến Hạn được ghi trên thông báo …”;
- Tại Điều 19 quy định về Số tiền thanh toán như sau: “Chủ Thẻ sẽ
chịu trách nhiệm thanh toán Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước Ngày Đến
Hạn như được nêu trong Thông Báo hàng tháng gởi cho Chủ thẻ…”
- Tại Điều 20 quy định về Áp dụng thanh toán như sau: “Thanh
toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của
kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của
kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong
kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.”
- Tại Điều 22 quy định về Cách tính lãi trong hạn như sau: “Chủ thẻ
đồng ý thanh toán lãi suất phát sinh trên tài khoản. Lãi suất được tính như
sau: … b) Đối với giao dịch rút tiền mặt và giao dịch tương đương rút tiền
mặt: Lãi suất được tính từ ngày giao dịch cho đến ngày Chủ thẻ thanh
toán lại toàn bộ số tiền đã rút.”
- Tại Điều 23 quy định về Vi phạm như sau: “Việc không thanh
toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo
tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm trong hợp đồng. Trong trường hợp này,
toàn bộ tổng Dư Nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và phải được trả bởi
Chủ Thẻ. Nếu Chủ Thẻ có nhiều hơn một Tài Khoản với Đơn Vị Phát
Hành Thẻ, việc vi phạm ở một Tài Khoản sẽ tự động được xem như là vi
phạm ở những tài khoản khác. Dù bất cứ trường hợp nào, Đơn Vị Phát
Hành Thẻ có quyền chấm dứt tất cả các Tài khoản của Chủ Thẻ tại Đơn
Vị Phát Hành Thẻ…
Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn Vị
Phát Hành Thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:
•
Chấm dứt quyền sử dụng Thẻ và tiến hành việc thu hồi nợ;
•
Áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với toàn bộ Dư Nợ theo quy
định của Đơn Vị Phát Hành Thẻ …”
+ Tại mục Các loại phí, cụ thể là:
- Tại Điều 24 quy định về Các loại phí như sau: “Bên cạnh lãi suất,
Chủ Thẻ còn phải trả các loại phí liên quan đến Thẻ, bao gồm nhưng không
giới hạn các loại phí sau đây:
(1) Phí hàng năm và phí phát hành thẻ phụ: Được thu mỗi năm một lần.
(2) Phí rút tiền mặt: Được thu khi Chủ thẻ rút tiền mặt.
…
(4) Phí thay đổi Hạn Mức: Được tính trên số dư vượt hạn mức được cấp.
(5) Phí vượt Hạn Mức: Được tính trên số dư vượt Hạn Mức được cấp.
(6) Phí chậm thanh toán: Được thu nếu Chủ thẻ không thanh toán ít
nhất Số Tiền Tối Thiểu vào hoặc trước Ngày Đến Hạn…”
Mặt khác, tại Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng như sau:
“Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 19 quy định: Chỉ TCPHT được thu phí của chủ thẻ. TCPHT thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của TCPHT phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi…”
Ngân hàng đã thực hiện thông báo số tiền nợ sao kê thẻ thông qua Thông báo khởi kiện ngày 25/5/2022 đồng thời gửi văn bản qua đường bưu điện theo địa chỉ mà bà Y đã cung cấp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trước khi Ngân hàng thực hiện việc khởi kiện bà Y tại Tòa cũng như thông báo cho bà Yến biết việc Ngân hàng khởi kiện bà (có đính kèm các tài liệu chứng cứ cho việc khởi kiện).
Từ những căn cứ trên, xét yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu Tòa buộc bà Y phải trả cho Ngân hàng số tiền là 241.609.857 (Hai trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm lẻ chín ngàn, tám trăm năm mươi bảy) đồng làm một lần ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó số tiền gốc là 48.961.198 đồng, tiền lãi quá hạn (tạm tính từ ngày 01/6/2013 đến 07/6/2023) là 192.648.659 đồng, là có cơ sở nghĩ nên chấp nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 463, khoản 1 Điều 466, b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Áp dụng Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng;
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/20219/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo);
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014.
Tuyên xử:
1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng X:
Buộc bà Y phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng X tổng số tiền tạm tính đến ngày 07/6/2023 là 241.609.857 (Hai trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm lẻ chín ngàn, tám trăm năm mươi bảy) đồng làm một lần ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó số tiền gốc là 48.961.198 đồng, số tiền lãi quá hạn là 192.648.659 đồng.
Kể từ ngày 08/6/2023, bà Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh được tính theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng được Ngân hàng phê duyệt ngày 23/7/2008 cho đến khi thanh toán xong nợ.
2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Y phải chịu 12.080.493 (Mười hai triệu, không trăm tám mươi ngàn, bốn trăm chín mươi ba) đồng.
Trả lại cho Ngân hàng X số tiền 5.533.654 (Năm triệu, năm trăm ba mươi ba ngàn, sáu trăm năm mươi bốn) đồng là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006644 ngày 07/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 3; - Chi cục THADS Quận 3; - Đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ánh Phượng |