vanban.org

Bản án 13/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín đối với Bà Lê Thị B về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Lê Thị B phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín số tiền nợ và các khoản tiền tính đến ngày 29/6/2023 đối với hợp đồng tín dụng LD 1811000073 ngày 20/4/2018: Nợ tiền gốc 72.343.000 đồng; Nợ lãi: 0 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán: 72.343.000 đồng (Bảy mươi hai tri… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng SCB và Lê Thị B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín đối với Bà Lê Thị B về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/ DS-ST
Ngày: 29.6.2023.
V/v “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sỹ Cường và Ông Nguyễn Hữu Tường.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Quang Sáng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2022/ TLST- TCDS ngày 27 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2023/QĐXX-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SÀI SÒN THƯƠNG TÍN; Trụ sở chính: Số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm: Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Đình Mạnh, Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Diễn Châu, chi nhánh Nghệ An. Địa chỉ: Khối 4, Thị trấn Diễn Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.(Theo văn bản ủy quyền số 3272/2022/QĐPL ngày 26/12/2022). Có mặt.

Bị đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: xóm 3, xã Đ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: B, thị trấn Đ, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt. Có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Ngày 20/4/2018, bà Lê Thị B ký hợp đồng tín dụng số LD 1811000073 nội dung cụ thể như sau:

Số tiền vay

: 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu).

Lãi suất

: Áp dụng lãi suất để tính số vốn và lãi định kỳ là 9 %/ năm trong thời gian hiệu lực của hợp đồng.

Mục đích

: Tiêu dùng;

Thời hạn

: 60 tháng;

Biện pháp đảm bảo : Tín chấp;

Ngày trả lãi 25 hàng tháng.

Ngày quá hạn thanh toán lãi

: 26/10/2020.

Thời điểm trả hết nợ

: 20/4/2023.

Số tiền gốc khách hàng đã thanh toán

: 67.657.000 đồng.

Số tiền lãi khách hàng đã thanh toán

: 23.893.784 đồng.

Dư nợ gốc tính đến hết ngày 29/6/2023

: 72.343.000 đồng.

Lãi thông thường đến hết ngày 29/6/2023

: 27.633.393 đồng.

Lãi quá hạn(lãi phạt) đến hết ngày 29/6/2023 : 6.588.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà Lê Thị B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi và nợ gốc.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Yên Thành buộc bà Lê Thị B thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Sacombank số tiền nợ tạm tính đến ngày 29/9/2022 là: 106.748.978 đồng (Một trăm linh sáu triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng), trong đó nợ gốc: 72.343.000 đồng, Nợ lãi: 34.405.987 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng tín dụng. Ngân hàng còn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải chịu án phí và chi phí phát sinh liên quan.

* Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị B trình bày: Tại bản tự khai đề ngày 22/5/2023 bà Lê Thị B công nhận có ký kết hợp đồng với Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín- Phòng giao dịch Diễn Châu vào năm 2018, do điều kiện khó khăn nên bà đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, hiện nay bà còn nợ số tiền gốc 72.343.000 đồng và lãi phát sinh. Nguyên đơn yêu cầu bà đồng ý thanh toán tiền nợ gốc, đối với tiền lãi theo đơn khởi kiện và lãi phát sinh bà xin đề nghị Ngân hàng không yêu cầu vì hoàn cảnh của bà hiện nay không đủ điều kiện để trả. Do điều kiện xa xôi nên bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giải quyết vụ án vắng mặt bà tất cả các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa.

Tại biên bản lấy lời khai của bà Lê Thị B do Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông lập có nội dung: Bà Lê Thị B trình bày bà có đăng ký tạm trú tại Bondru, thị trấn Đắk Mâm, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông được 03 năm, bà đã nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện do Tòa án tống đạt, bà thừa nhận có vay và nợ tiền của Ngân hàng như đơn khởi kiện nhưng thời điểm vi phạm các nghĩa vụ trả nợ thì bà không nhớ tuy nhiên số tiền nợ gốc ngân hàng khởi kiện là đúng. Do điều kiện khó khăn bà đề nghị Ngân hàng cho bà được thanh toán tiền gốc, còn tiền lãi phát sinh thì đề nghị Ngân hàng không tính. Do điều kiện đi lại xa xôi nên bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giải quyết vụ án vắng mặt bà tất cả các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa.

Tại phiên toà: Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc 72.343.000 đồng. Nhưng xin rút toàn bộ yêu cầu trả nợ lãi, lãi quá hạn cho khách hàng là bà Lê Thị B tính đến 29/6/2023.

Bị đơn vắng mặt đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và có đề nghị Tòa án xem xét giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự:

Về thủ tục tố tụng Thẩm phán, hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Các đương sự đã chấp hành đúng qui định pháp luật.

Về nội dung vụ án đề nghị hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện và chấp nhận việc xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín.

Bà Lê Thị B là bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với hợp đồng tín dụng số LD 1811000073 ngày 20/4/2018. Bà Lê Thị B phải có nghĩa vụ thanh toán cho cho Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín số tiền: Tính đến ngày 29/6/2023 đối với hợp đồng tín dụng LD 1811000073 gồm: Nợ tiến gốc 72.343.000 đồng; Nợ lãi: Không yêu cầu.

Tổng số tiền: 72.343.000 (Bảy mươi hai triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn) đồng.

Án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị B cư trú tại xóm 3(Nay là xóm 2), xã Đ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Bondru, thị trấn Đắk Mâm, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 40, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án huyện Huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án đúng thẩm quyền.

- Thủ tục tố tụng: Bị đơn vắng mặt với lý do đang ở làm ăn xa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định của pháp luật.

Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín khởi kiện bà Lê Thị B yêu cầu thanh toán khoản vay theo hợp đồng tín dụng. Quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Về nội dung Hợp đồng tín dụng: Ngày 20/4/2018 Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín ký hợp đồng tín dụng với bà Lê Thị B. Hợp đồng tín dụng có đầy đủ chữ ký của bà Bảy. Ngân hàng đã thực hiện giải ngân và bà Lê Thị B đã thừa nhận khoản nợ. Các đương sự ký hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao kết hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Tính đến ngày 29/6/2023, Bà Lê Thị B thừa nhận còn nợ Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín số tiền theo hợp đồng tín dụng LD 1811000073 ngày 20/4/2018 là:

Nợ tiến gốc: 72.343.000 đồng và tiền nợ lãi phát sinh như Ngân hàng khởi kiện.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên cần được chấp nhận. Buộc bà Lê Thị B phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín các khoản tiền trên.

Kể từ ngày 30/6/2023, Bà Lê Thị B phải có nghĩa vụ tiếp tục trả các khoản tiền lãi trên dư nợ gốc thực tế theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Đối với khoản nợ lãi, lãi quá hạn tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và không yêu cầu bà Lê Thị B phải trả tiền nợ lãi, lãi quá hạn phát sinh từ hợp đồng tín dụng LD 1811000073 ngày 20/4/2018 tính đến ngày xét xử (29/6/2023). Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện này của Nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái qui định pháp luật. Căn cứ khoản 2 điều 244 BLTTDS Hội đồng xét xử chấp nhận để đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện này của Nguyên đơn.

Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu độc lập nên Tòa không xem xét.

Xét hoàn cảnh của Bà Lê Thị B hiện tại và hoàn cảnh gia đình bà Bảy hiện nay rất khó khăn nên không đủ khả năng trả nợ, trả lãi suất cho Ngân hàng. Khi bản án có hiệu lực pháp luật Hội đồng xét xử kiến nghị Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín tạo điều kiện phù hợp qui định của Ngân hàng và pháp luật đối với bị đơn trong quá trình thi hành bản án.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung ngân sách Nhà nước. Nguyên đơn không phải chịu án phí, chi phí tố tụng nên được trả lại số tiền tạm ứng đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40, 144,147 , 227, 271, 273 khoản 2 điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 401,463,466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín đối với Bà Lê Thị B về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bà Lê Thị B phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín số tiền nợ và các khoản tiền tính đến ngày 29/6/2023 đối với hợp đồng tín dụng LD 1811000073 ngày 20/4/2018: Nợ tiền gốc 72.343.000 đồng; Nợ lãi: 0 đồng.

Tổng số tiền phải thanh toán: 72.343.000 đồng (Bảy mươi hai triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn) đồng.

Kể từ ngày 30/6/2023 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong. Bà Lê Thị B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng LD 1811000073 ngày 20/4/2018. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất mà Bà Lê Thị B phải tiếp tục thanh toàn cho Ngân hàng được xác định theo thỏa thuận của các bên.

3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín về việc yêu cầu bà Lê Thị B trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn phát sinh từ Hợp đồng tín dụng LD 1811000073 ngày 20/4/2018 đến ngày 29/6/2023.

Về án phí: Bà Lê Thị B phải chịu án phí Dân sự đối với hợp đồng tín dụng LD 1811000073 ngày 20/4/2018 là: 3.617.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín được nhận lại số tiền 2.670.000 đồng tiền tạm ứng án phi nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000532 ngày 27/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Trường hợp bản án, quyết định được thì hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6: Điều 7 và Điều 9 Luật thì hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm,các đương sự có mặt tại phiên tòa đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ