vanban.org

Bản án 13/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA, ngày …

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử: Buộc ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K tổng số tiền 184.680.534 (một trăm tám mươi bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn năm trăm ba mươi bốn) đồng, gồm có: Số tiền nợ gốc là 130.000.000 (một tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP K- Võ Văn N, Nguyễn Thị Ng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA, ngày …
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/DS-ST
Ngày: 24/5/2023.
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Tuấn Hải.

2. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Ông Danh Vũ Hải.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 199/2022/TLST-DS, ngày 27 tháng 12 năm 2022, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-DS, ngày 13 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2023/QĐST-DS, ngày 08 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.

Địa chỉ: số 40-42-44 Ph, phường V, R, tỉnh K.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V - Chức vụ: Phó tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ch – sinh năm 1984, có mặt.

Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP K.

Địa chỉ: số 40-42-44 Ph, phường V, R, tỉnh K.

2. Bị đơn: Ông Võ Văn N – sinh năm 1969, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp Mười Hùng, xã Vĩnh Tuy, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Bà Nguyễn Thị Ng – sinh năm 1970, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K trình bày nội dung khởi kiện với các yêu cầu như sau:

- Ngân hàng thương mại cổ phần K – Chi nhánh Kiên Giang - Phòng giao dịch Gò Quao có cho vợ chồng ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng vay số tiền 130.000.000 đồng, theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 820/16/HĐHM/1011-0865, ký ngày 09/5/2016 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2716/20/HĐTD/1011-0865, ký ngày 30/12/2020, mục đích vay bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Thời hạn vay là 12 tháng, hình thức trả nợ là trả lãi 06 tháng 01 lần và vốn gốc trả cuối kỳ; lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 12,9%/năm, lãi được điều chỉnh 03 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng đã nhận đủ số tiền vay 130.000.000 đồng, theo khế ước nhận nợ số 2716/KUNN, ngày 30/12/2020.

Khi vay tiền, ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 820/16/HĐTC-BĐS/1011-0865, ngày 09/5/2016, đối với các tài sản sau:

Quyền sử dụng đất có diện tích 5.540m2, thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 10-1, đất tọa lạc tại ấp Chiến Thắng, xã Vĩnh tuy, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, toàn bộ diện tích đất trên được Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ188306, ngày 04/5/2004, do ông Võ Văn N đứng tên.

Quyền sử dụng đất có diện tích 6.582m2, thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 10-1, đất tọa lạc tại ấp Ch, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, toàn bộ diện tích đất trên được Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y032815, ngày 22/10/2003, do ông Võ Văn N đứng tên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không trả nợ đúng cam kết nên ngày 10/8/2022, Ngân hàng TMCP K khởi kiện ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng, tính đến ngày 30/12/2021, số nợ vay của ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng đã quá hạn, hiện tại dư nợ gốc là 130.000.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 24/5/2023 là 54.680.534 đồng (trong đó lãi trong hạn là 16.770.000 đồng, lãi quá hạn là 35.1480.82 đồng, lãi phạt lãi chậm trả 2.762.542 đồng).

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải trả hết số tiền nợ gốc là 130.000.000 đồng và lãi suất phát sinh tính đến ngày xét xử theo hợp đồng đã thỏa thuận là 54.680.534 đồng, tổng cộng bằng 184.680.534 đồng. Đồng thời, Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi tất toán khoản vay. Trường hợp ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không trả đủ số nợ vay và lãi phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần K thì Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không có mặt nên Tòa án không thể ghi nhận bất cứ ý kiến hay yêu cầu nào của ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng.

- Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần K có ý kiến xin giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền vay và lãi phát sinh tạm tính đến ngày xét xử 24/5/2023 bằng 184.680.534 đồng. Đồng thời, yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký, trường hợp vợ chồng ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, vụ kiện được giải quyết đúng thời hạn quy định. Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt là không tuân thủ quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ kiện vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử buộc bị đơn ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền hiện còn nợ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết khoản nợ vay cho Ngân hàng. Trường hợp ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không thực hiện nghĩa vụ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K với ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng là tranh chấp về dân sự được quy định tại Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng vắng mặt 02 lần không có lý do và việc vắng mặt này không làm thay đổi nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với mục đích vay tài sản được quy định tại Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự. Qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy giao dịch giữa các đương sự là thỏa thuận vay tài sản. Do vậy, khi các bên xảy ra tranh chấp thì căn cứ vào các quy định về hợp đồng vay tài sản để giải quyết là phù hợp pháp luật.

Tại hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 820/16/HĐHM/1011-0865, ký ngày 09/5/2016 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2716/20/HĐTD/1011-0865, ký ngày 30/12/2020, giữa các bên có quy định về lãi suất, thời hạn vay, phương thức thanh toán nợ gốc và lãi. Những quy định trong hợp đồng không trái với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ dung năm 2017; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện hợp đồng, ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không thực hiện đúng cam kết, từ ngày 30/12/2021 hợp đồng tín dụng trên đã quá hạn. Cho đến nay, bên vay ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng đã vi phạm về thời hạn trả nợ nên căn cứ vào Điều 466 Bộ luật dân sự buộc ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải trả khoản nợ vay và lãi phát sinh cho Ngân hàng là phù hợp.

Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 820/16/HĐTC-BĐS/1011-0865, được ký kết ngày 09/5/2016, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K với ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng có nêu rõ các điều khoản thi hành và được công chứng, chứng thực đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất có diện tích 5.540m2, thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 10-1, đất tọa lạc tại ấp Ch, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, toàn bộ diện tích đất trên được Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ188306, ngày 04/5/2004, do ông Võ Văn N đứng tên.

Quyền sử dụng đất có diện tích 6.582m2, thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 10-1, đất tọa lạc tại ấp Ch, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, toàn bộ diện tích đất trên được Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y032815, ngày 22/10/2003, do ông Võ Văn N đứng tên.

Hiện tại, những tài sản này do vợ chồng ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng đang quản lý, sử dụng, không có giao dịch với bên thứ ba. Vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ dung năm 2017 chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.

Đối với hợp đồng tín dụng, do vợ chồng ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng cùng đứng tên và cùng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, mục đích vay là để bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi nhằm phát triển kinh tế gia đình, nên căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 buộc ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng cùng phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng về phạt vi phạm trên số tiền lãi trong hạn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi tất toán khoản vay là phù hợp với nội dung Án lệ số 08/2016AL ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này.

Tại phiên tòa, sau khi nghe lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần K, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải trả số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng, trường hợp ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí DSST có giá ngạch: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải nộp 9.234.000 đồng (184.680.534 đồng x 5%).

Ngân hàng thương mại cổ phần K không phải chịu án phí vì yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận. Ngân hàng thương mại cổ phần K được nhận lại 4.073.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001922 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 26, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng Điều 323, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;

- Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA, ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

- Áp dụng Điều 91 và 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Áp dụng Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng khoản 2 Điều 8 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xử: Buộc ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K tổng số tiền 184.680.534 (một trăm tám mươi bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn năm trăm ba mươi bốn) đồng, gồm có: Số tiền nợ gốc là 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng và lãi suất phát sinh tính đến ngày xét xử theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là 54.680.534 (năm mươi bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn năm trăm ba mươi bốn) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần K, thì Ngân hàng thương mại cổ phần K có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ trên gồm: Quyền sử dụng đất có diện tích 5.540m2, thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 10-1, đất tọa lạc tại ấp Ch, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, toàn bộ diện tích đất trên được Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ188306, ngày 04/5/2004, do ông Võ Văn N đứng tên và quyền sử dụng đất có diện tích 6.582m2, thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 10-1, đất tọa lạc tại ấp Chiến Thắng, xã Vĩnh tuy, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, toàn bộ diện tích đất trên được Ủy ban nhân dân huyện Gò Quao cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y032815, ngày 22/10/2003, do ông Võ Văn N đứng tên.

Khi ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng trả hết số nợ đã vay và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng thương mại cổ phần K, thì Ngân hàng thương mại cổ phần K có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận QSD đất số Đ188306, cấp ngày 04/5/2004 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y032815, ngày 22/10/2003, cho ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc Ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ng phải nộp 9.234.000 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần K được nhận lại 4.073.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001922 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. “Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ