- Tranh chấp gì? án hình sự — "HUYNH VAN T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST. Ngày: 27-01-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.
-Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Vũ.
-Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 27/01/2022 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2022/TLST-HS ngày 13/01/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐST-HS ngày 20/01/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn T (Tên gọi khác: Huỳnh Văn T); sinh năm 1993; tại: Tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: Buôn B, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Đ (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1961; vợ Phạm Thùy D, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 305/2016/HSPT ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2021, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Ông Nguyễn Sỹ Q, sinh năm 1949. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn 3, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1990; địa chỉ: Buôn B, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
Người làm chứng:
Anh Trịnh Xuân Kh, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 3, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
Anh Y Th Niê, sinh năm 1992; địa chỉ: Buôn B, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Huỳnh Văn T là người đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Khoảng 17 giờ, ngày 21 tháng 12 năm 2021, Huỳnh Văn T mang theo 02 bao xác rắn màu xanh rồi điều khiển xe mô tô biển số 47L7 - 5179 đi tìm kiếm tài sản trộm cắp. Sau đó, T đi đến rẫy cà phê của ông Nguyễn Sỹ Q ở thôn 3, xã Ea Nam. Lúc này, T phát hiện trong vườn cà phê của ông Q không có người trông coi. Thấy vậy, T đã mang xe mô tô đi cất giấu trong khu đất trống cách vườn cà phê khoảng 80 mét rồi T đi bộ vào trong vườn cà phê ông Q. Tại đây, T dùng tay và mũ bảo hiểm hái cà phê quả tươi bỏ vào trong 02 bao xác rắn. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì T hái được 02 bao cà phê quả tươi. Sau khi hái trộm được 02 bao cà phê quả tươi, T đi đến lấy xe mô tô chở 02 bao cà phê đi bán thì bị ông Q phát hiện báo cho Công an xã Ea Nam phối hợp đuổi bắt được T cùng 02 bao cà phê quả tươi có trọng lượng là 104kg.
Tại kết luận định giá tài sản số: 787/KL-HĐĐGTS, ngày 23/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ea H'Leo, kết luận: 104kg quả cà phê tươi, loại cà phê vối (Robusta), có giá trị là 894.400 đồng.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung tại Quyết đinh truy tố theo thủ tục rút gọn số 10/QĐ-VKS, ngày 13/01/2022 truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 47L7 – 5179 cho ông Huỳnh Văn C và giao trả 104kg cà phê quả tươi cho ông Nguyễn Sỹ Q là các chủ sở hữu.
Đối với chiếc mũ bảo hiểm của bị cáo đã làm thất lạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H'Leo không thu giữ được.
Cần tịch thu tiêu hủy 02 bao xác rắn màu xanh không có giá trị sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản ông Q và ông C không có yêu cầu gì về dân sự.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết được việc làm của bị cáo là sai trái, bị cáo xin Hội đồng xét xử xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo có điều kiện làm người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về nội dung: Khoảng 17 giờ, ngày 21 tháng 12 năm 2021, Huỳnh Văn T đã có hành vi trộm cắp 02 bao cà phê quả tươi của ông Nguyễn Sỹ Q, khi T chở 02 bao cà phê đi bán thì bị ông Q phát hiện báo cho Công an xã Ea Nam bắt được T cùng 02 bao cà phê quả tươi có trọng lượng là 104kg, được xác định có giá trị là 894.400 đồng.
Mặc dù giá trị 02 bao cà phê giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo Huỳnh Văn T đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà bị cáo lại tiếp tục vi phạm, nên hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo đối với bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại Điều luật này quy định như sau:
1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội được quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
...”
Xét thấy, bị cáo đã từng bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Do đó, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật. Ngoài ra, còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, giảm nh cho bị cáo một phần trách nhiêm hình sự. Vì xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp có giá trị không lớn và đã hoàn trả cho chủ sở hữu. Đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 47L7 – 5179 cho ông Huỳnh Văn C và giao trả 104kg cà phê quả tươi cho ông Nguyễn Sỹ Q là các chủ sở hữu.
Đối với chiếc mũ bảo hiểm của bị cáo đã làm thất lạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H'Leo không thu giữ được.
Cần tịch thu tiêu hủy 02 bao xác rắn màu xanh không có giá trị sử dụng.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, Q và ông C không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên:
QUY T ĐỊNH:
-Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tuyên b : Bị cáo Huỳnh Văn Ti phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn T (Huỳnh Văn T) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả 01 chiếc xe mô tô biển số 47L7 – 5179 cho ông Huỳnh Văn C và giao trả 104kg cà phê quả tươi cho ông Nguyễn Sỹ Q là các chủ sở hữu.
Tịch thu tiêu hủy 02 bao xác rắn màu xanh không có giá trị sử dụng.
(Vật chứng được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/01/2022 giữa Công an huyện Ea H’Leo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo).
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA T. Đăk Lăk; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Cơ quan THAHS CA huyện Ea H’Leo; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’Leo; - Bộ phận THAHS TAND huyện Ea H’Leo; - Bị cáo; các đương sự; - Lưu hồ sơ, vi tính; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Huy Vũ |