vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N Y phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N Y 01(một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BỊ CÁO NGUYỄN THỊ N Y - CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N Y phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày: 08/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hòa Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;

2. Bà Ngô Kim Quyên;

Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Minh Nhựt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vi – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2022 /HS-ST ngày 25 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2022 /QĐXXST- HS ngày 23 Tháng 11năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N Y, sinh ngày 29/6/2004; nơi cư trú: Khóm Long C, phường Long C, thị xã Tân C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S,sinh năm 1982 và bà Tống Thị Lan Đ, sinh năm 1987; Anh, chị, em ruột: bị cáo là người duy nhất; bị cáo chưa có chồng con, Nhân thân: chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị Thảo M, sinh ngày 13/9/2004; Cư trú: Khóm Long C, phường Long C, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị H, sinh năm 1958; Cư trú: Khóm Long C, phường Long C, thị xã Tân C, tỉnh An Giang ( có mặt).

- Người làm chứng:

1. Chị NLC1, sinh ngày 27/8/2004; Cư trú: Khóm Long T1, phường Long S, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Chị NLC2, sinh ngày 01/01/2004; Cư trú: Khóm Long H1, phường Long S, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (có mặt).

3. Em NLC3, sinh ngày 28/12/2004; Cư trú: Ấp Phú Bình, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (có mặt).

Đại diện theo pháp luật cho em NLC3 là bà Nguyễn Thị N, (mẹ ruột); Cư trú: Ấp Phú B, xã Phú V, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

4. Em NLC4, sinh ngày 01/01/2006; Cư trú: Khóm Long TD, phường Long T, thị xã Tân C, tỉnh An Giang ( có mặt).

Đại diện theo pháp luật cho em NLC4 là bà Lê Thị K (mẹ ruột), sinh năm 1974; Cư trú: Khóm LD, phường Long S, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Có bà Nguyễn Thị Kiều T - Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Long T, thị xã Tân C làm đại diện theo pháp luật cho các em NLC3, NLC4.

Đại diện theo pháp luật cho em NLC4 là bà Lê Thị K (mẹ ruột), sinh năm 1974; Cư trú: Khóm LD, phường Long S, thị xã Tân C, tỉnh An Giang ( vắng mặt).

5. Chị NLC5, sinh ngày 20/4/2004; Cư trú: Khóm Long T1, phường Long S, thị xã Tân C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N Y (sinh ngày 29/6/2004) và Trần Thị Thảo M có hiểu lầm, mâu thuẫn với nhau, NY dùng nón bảo hiểm đánh vùng lưng của M, được can ngăn. Sau đó, M hẹn NY đến quán cà phê KAMIN tại khóm Long TD, phường Long T, thị xã Tân C, tỉnh An Giang để nói chuyện, hòa giải.

Khoảng 19 giờ ngày 26/5/2022, M cùng bạn là NLC1, NLC2, NLC3 và NLC5 đến ngồi đợi tại quán. Khoảng 30 phút sau, NY đi cùng NLC4 đến, thấy M đang ngồi nói chuyện cùng với nhóm bạn, NY nghĩ bị nhóm bạn của M chọc quê, nên cầm con dao (loại dao gọt trái cây), mang theo trong người, đi lại chỗ M ngồi, đâm trúng vào vùng lưng của M. Khi M quay lại, dùng tay trái đỡ thì bị NY tiếp tục dùng dao đâm nhiều nhát trúng vào tay trái gây thương tích. Sau đó, NY ra khỏi quán, bẻ gãy con dao, ném bỏ ở khu vực quán Gió Đồng (khóm Long TD, phường Long T, thị xã Tân C), rồi đi về nhà. Cơ quan Công an tiến hành thu giữ vật chứng, xử lý theo quy định.

Riêng, M được đưa đi cấp cứu, điều trị đến ngày 01/06/2022 xuất viện, có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Ngày 18/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị N Y, về tội “Cố ý gây thương tích”.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 (một) con dao loại dao gọt trái cây có cán bằng nhựa cứng màu xanh dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 07cm, cán dao và lưỡi dao bị bẻ gãy làm hai.

- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 324/22/TgT ngày 08/6/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang, đối với: Trần Thị Thảo M, năm sinh: 2004, ngụ khóm Long H, phường Long C, thị xã Tân C, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo mặt lòng phía ngón II bàn tay trái, kích thước (2.5x0.2)cm, sắc gọn. Đứt gân gấp ngón II bàn tay trái. Cứng khớp liên đốt xa ngón II bàn tay trái. Tỷ lệ là 04% (không bốn phần trăm). Thương tích do vật sắt gây nên.

- Sẹo mặt lòng phía ngón III bàn tay trái, kích thước (1.5x9.1)cm, sắc gọn: Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Thương tích do vật sắt gây nên.

- Sẹo mặt lòng đốt 2 ngón IV bàn tay trái, kích thước (1.5x0.1)cm, sắc gọn. Tỷ lệ 01% (không một phần trăm). Thương tích do vật sắt nhọn gây nên.

- Sẹo lưng trái gần cột sống, hơi xiên, kích thước (1.2x0.1)cm. Thấu ngực, tràn dịch màng phổi trái: Tỷ lệ 08% (không tám phần trăm). Thương tích do vật sắc nhọn gây nên.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 14%.

Cáo trạng số 56/CT-VKSTC ngày 25 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N Y về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N Y khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại chị Trần Thị Thảo M người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H, người làm chứng chị NLC1, chị NLC2, em NLC3, em NLC4, chị NLC5 trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

Về trách nhiệm dân sư: Bị hại chị M cho rằng, hiện tại sức khỏe đã hồi phục, đã được gia đình NY bồi thường 2.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thêm chi phí điều trị thương tích 3.523.074 đồng.

Bị cáo NY đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, đã bồi thường thêm số tiền 1.000.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân châu, tỉnh An Giang.

Theo biên lai thu số 0001746 ngày 08/11/2022, đồng ý bồi thường thêm số tiền 2.523.074 đồng cho chị Thảo M.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54. Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N Y mức án từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị công nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại sức khỏe giữa bị cáo NY và bị hại chị Thảo M, bị cáo NY tiếp tục bồi thường cho chị Thảo M số tiền 2.523.074 đồng.

Chị Trần Thị Thảo M được nhận số tiền 1.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân châu, tỉnh An Giang, theo biên lai thu số 0001746 ngày 08/11/2022 do bị cáo Nguyễn Thị N Y nộp.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao loại dao gọt trái cây có cán bằng nhựa cứng màu xanh dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 07cm, cán dao và lưỡi dao bị bẻ gãy làm hai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hình vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên đại diện theo pháp luật cho em NLC3 là bà Nguyễn Thị N, (mẹ ruột) đại diện theo pháp luật cho em NLC4 là bà Lê Thị K (mẹ ruột) là người làm chúng trong vụ án vắng mặt, tuy nhiên có bà Nguyễn Thị Kiều T - Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Long T, thị xã Tân C làm đại diện theo pháp luật cho em NLC3, NLC4, đồng thời các em NLC3, NLC4 cũng đồng ý cho bà T làm đại diện theo pháp luật. việc bà N, bà K vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

- Về nội dung:

Hành vi phạm tội:

Nguyễn Thị N Y (sinh ngày 29/6/2004) và Trần Thị Thảo M có hiểu lầm, mâu thuẫn với nhau, NY dùng nón bảo hiểm đánh vùng lưng của M, được can ngăn. Sau đó, M hẹn NY đến quán cà phê KAMIN tại khóm Long TD, phường Long T, thị xã Tân C, tỉnh An Giang để nói chuyện, hòa giải.

Khoảng 19 giờ ngày 26/5/2022, M cùng bạn là NLC1, NLC2, NLC3 và NLC5 đến ngồi đợi tại quán. Khoảng 30 phút sau, NY đi cùng NLC4 đến, thấy M đang ngồi nói chuyện cùng với nhóm bạn, NY nghĩ bị nhóm bạn của M chọc quê, nên cầm con dao (loại dao gọt trái cây), mang theo trong người, đi lại chỗ M ngồi, đâm trúng vào vùng lưng của M. Khi M quay lại, dùng tay trái đỡ thì bị NY tiếp tục dùng dao đâm nhiều nhát trúng vào tay trái gây thương tích

Lời khai nhận của bị cáo NY phù hợp với nội dung của cáo trạng, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi , nghĩa vụ liên, người làm chứng, các bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 324/22/TgT ngày của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, vật chứng và tài liệu,chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo NY đã có hành vi sử dụng con dao (loại dao gọt trái cây) là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Trần Thị Thảo M tỷ lệ thương tật là 14%, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N Y phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo NY là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, do đó cần phải xử lý nghiêm, phù hợp tính chất và mức độ phạm tội mà bị cáo gây qua đó cũng nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm chung trong giai đoạn hiên nay.

Tuy nhiên xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo NY có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt như chưa có tiền án tiền sự, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo đã bồi thường được một phần thiệt hại cho bị hại, thời điểm bị cáo NY thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, có thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo NY, cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo trở thánh công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) con dao loại dao gọt trái cây có cán bằng nhựa cứng màu xanh dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 07cm, cán dao và lưỡi dao bị bẻ gãy làm hai, vật chứng này không có giá trị sử dụng, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Thảo M cho rằng, hiện đã được gia đình NY bồi thường 2.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thêm chi phí điều trị thương tích 3.523.074 đồng.

Bị cáo NY đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, đã bồi thường thêm số tiền 1.000.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân châu, tỉnh An Giang, theo biên lai thu số 0001746 ngày 08/11/2022, đồng ý bồi thường thêm số tiền 2.523.074 đồng cho chị Thảo M.

Xét, việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại sức khỏe giữa bị cáo NY và bị hại là hoàn toàn tự nguyên, phù hợp với quy định của pháp luật nên được công nhận, Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, bị cáo NY tiếp tục bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại chị Thảo M số tiền 2.523.074 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Chị Trần Thị Thảo M được nhận số tiền 1.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân châu, tỉnh An Giang, theo biên lai thu số 0001746 ngày 08/11/2022 do bị cáo Nguyễn Thị N Y nộp.

Về án phí: Bị cáo NY phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N Y phạm tội "Cố ý gây thương tích".

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N Y 01(một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Công nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt sức khỏe giữa bị cáo Nguyễn Thị Ý Như và bị hại chi Trần Thị Thảo M, bị cáo Nguyễn Thị N Y tiếp tục bồi thường cho bị hại chị Trần Thị Thảo M số tiền 2.523.074 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Chị Trần Thị Thảo M được nhận số tiền 1.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân châu, tỉnh An Giang, theo biên lai thu số 0001746 ngày 08/11/2022 do bị cáo Nguyễn Thị N Y nộp.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) con dao loại dao gọt trái cây có cán bằng nhựa cứng màu xanh dài 09cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 07cm, cán dao và lưỡi dao bị bẻ gãy làm hai.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu tỉnh An Giang).

3. Về án phí: Căn cứ các điểm a, c, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án). Bị cáo Nguyễn Thị N Y phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ