- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bé H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST. Ngày: 23/02/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
2. Ông Nguyễn Phú Thạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1990 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 11, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Suối (đã chết) và bà Trịnh Thị Hường, sinh năm 1957; Chồng: Nguyễn Minh Hùng, sinh năm: 1977 (Không đăng ký kết hôn) và một người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Tại Quyết định số 09/QĐ-XPHC ngày 07/11/2020, Nguyễn Thị Bé H bị Công an xã Tân Xuân, huyện Hàm Tân xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Ngày 06/6/2011, bị UBND thị xã L đưa vào Trung tâm chữa bệnh – GDLĐXH tỉnh Bình Thuận trong thời hạn 24 tháng, đến ngày 21/5/2013 chấp hành xong. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1/ Ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1965; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố 07, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
2/ Ông Lâm Hữu H, sinh năm: 1966; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
3/ Bà Đặng Thị Mỹ D, sinh năm: 1995; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố 09, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 17/7/2021 đến ngày 23/7/2021, Nguyễn Thị Bé H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn thị xã L, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 17/7/2021, Nguyễn Thị Bé H đi bộ trên đường thuộc khu phố 07, phường B, thị xã L thì nhìn thấy nhà ông Nguyễn Minh T, sinh 1965 không đóng cửa nên H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định này, H đi vào trong phòng khách nhà ông T thì nhìn thấy chiếc xe máy điện nhãn hiệu HKbike (biển số 86MĐ – 000.64) có sẵn chìa khóa để bên cạnh nên H lấy chìa khóa cắm vào ổ khóa rồi dẫn xe ra ngoài. Sau khi lấy trộm được xe máy điện, H điều khiển xe chạy đến cửa hàng điện thoại trên đường Thống Nhất, thuộc khu phố 04, phường T, thị xã L cầm cố cho Nguyễn Tuấn K, sinh 1977 với số tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi phát hiện xe máy điện bị mất, ông Thạnh đã trình báo với chính quyền địa phương. Ngày 27/7/2021, Nguyễn Tuấn K phát hiện chiếc xe máy điện biển số 86MĐ – 000.64 là tài sản do phạm tội mà có nên đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 26/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 xe máy điện hiệu HKbike, màu đỏ đen, Biển kiểm soát 86MĐ – 000.64, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là 1.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 12 giờ ngày 20/7/2021, Nguyễn Thị Bé H đến nhà ông Lâm Hữu H, sinh 1966, nơi cư trú: thộn B, xã T, thị xã L với mục đích là trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, H nhìn thấy ông H đang ngồi ăn cơm trên giường, bên cạnh có để 01 cái máy tính bảng; lợi dụng lúc ông H không để ý, H cầm lấy chiếc máy tính bảng rồi đi ra khỏi nhà; lúc này, ông H phát hiện máy tính bảng bị mất nên đã đuổi theo giữ H lại, đồng thời trình báo với chính quyền địa phương, Công an xã T đã đến lập biên bản ghi nhận sự việc, thu giữ tang vật rồi chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để xử lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 39 ngày 12/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 máy tính bảng hiệu Huawei AGS2 – L09, 32Gb, màu đen, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là 1.500.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 15 giờ ngày 23/7/2021, Nguyễn Thị Bé H đột nhập vào nhà chị Đặng Thị Mỹ D, sinh 1995 ở khu phố 09, phường B, thị xã L để trộm cắp tài sản. Khi vào trong nhà, H nhìn thấy chị D đang nằm ngủ trên ghế bố, bên cạnh có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, H cầm lấy chiếc điện thoại rồi thoát ra khỏi nhà chị D; sau đó, H đem chiếc điện thoại vừa lấy trộm được đến khu phố 11, phường B bán cho chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh 1997 với giá 1.000.000 đồng để lấy tiền tiêu xài. Sau khi phát hiện điện thoại bị mất, chị D trình báo với chính quyền địa phương, Công an phường B đã thu giữ tang vật rồi chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để xử lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40 ngày 18/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A51, 128Gb, màu xanh, đã qua sử dụng, còn hoạt động; có giá trị là 3.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe máy điện nhãn hiệu HKbike, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51, hiện Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả lại cho các chủ sỡ hữu.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSLG-HS ngày 14 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bé H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 173; Khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Bé H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Điểm a khoản 01 Điều 173; Khoản 01 Điều 173; Điểm g khoản 01 Điều 52; Điểm n, s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên đề nghị không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo H xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã L và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt các bị hại. Xét thấy các bị hại vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 17/7/2021, Nguyễn Thị Bé H đột nhập vào nhà ông Nguyễn Minh Thạnh ở khu phố 07, phường B, thị xã L lấy trộm 01 chiếc xe máy điện trị giá 1.500.000 đồng. Ngày 20/7/2021, Nguyễn Thị Bé H lén lút lấy trộm 01 chiếc máy tính bảng trị giá 1.500.000 đồng của ông Lâm Hữu Hiệu ở thôn Bình An 3, xã Tân Bình, thị xã L. Ngày 23/7/2021, Nguyễn Thị Bé H đột nhập vào nhà Đặng Thị Mỹ Duyên ở khu phố 09, phường B, thị xã L lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A51 có giá trị 3.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Mặc dù trị giá tài sản trộm cắp các ngày 17/7/2021 và 20/7/2021 dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự và được coi là hai lần phạm tội. Còn hành vi ngày 23/7/2021 giá trị tài sản trộm cắp đã đủ định lượng cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo H là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải bằng còn đường lao động chân chính nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 01 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là phụ nữ có thai, các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm n, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 01 Điều 173; Điểm g khoản 01 Điều 52; Điểm n, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bé H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bé H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/02/2022); Của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã L; - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an thị xã L; - Người tham gia tố tụng; - Chi cục thi hành án dân sự thị xã L; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Biện Việt Hùng |