- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Văn Đình K phạm tội: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Đình K phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày: 28-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và bà Dương Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Thọ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, số 06 đường Đặng Tràm, phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2022, đối với:
-Bị cáo Văn Đình K, sinh ngày 17/02/1987 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Thôn V, xã TT, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con của ông Văn Đình T, sinh năm 1950 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1953; Vợ con: Chưa có; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo con thứ tư; Tiền án: Không, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2021 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Văn Đình M, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn V, xã TT, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phan Trường T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số 04 đường ĐH, phường PV, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
+ Ông Văn Đình T, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Thôn V, xã TT, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 26 tháng 10 năm 2021, bị cáo Văn Đình K đi bộ sang nhà anh Văn Đình M, sinh năm 1978, trú tại thôn V, xã TT, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, để chơi (bị cáo K và anh M là bà con). Khi đến, bị cáo K thấy nhà không có ai, cổng, cửa, đều không đóng; Trong nhà có để 01 xe đạp điện nhãn hiệu HTC màu xanh, đen. Lúc này, bị cáo K nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đến dắt xe đạp của anh M ra khỏi nhà. Sau đó đạp xe đến tiệm sửa xe của anh Phan Trường T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số 04 đường ĐH, phường PV, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế và bán xe đạp cho anh T được số tiền là 1.500.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, anh M đi làm về, phát hiện bị mất xe đạp điện nên trình báo Cơ quan Công an.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm 01 xe đạp điện nhãn hiệu HTC màu xanh - đen, đã qua sử dụng. Hiện 01 xe đạp điện nhãn hiệu HTC màu xanh – đen thì Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 98 ngày 29/10/2021, của Hội đồng định giá đã kết luận: 01 xe đạp điện nhãn hiệu HTC màu xanh - đen, đã qua sử dụng có trị giá 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Văn Đình M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm. Bị cáo K cùng gia đình đã bồi thường số tiền 1.500.000 đồng cho anh Phan Trường T, anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Văn Đình K đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HTh ngày 09/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Văn Đình K về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Văn Đình K phạm tội: Trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Văn Đình K từ 04 tháng tù đến 05 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Văn Đình M khai đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo Văn Đình K phải bồi thường thiệt hại gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Phan Trường T khai đã nhận lại số tiền mua tài sản là 1.500.000 đồng, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Còn ông Văn Đình T cũng không yêu cầu bị cáo K phải trả lại số tiền mà ông đã bỏ ra để bồi hoàn thay cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo Văn Đình K trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của bị hại là anh Văn Đình M trình bày: Về hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Văn Đình K đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội nhưng hiện nay anh đã nhận lại tài sản đầy đủ, không yêu cầu bị cáo Văn Đình K bồi thường thiệt hại gì thêm, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật.
[2]. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy thu thập trong hồ sơ đều có giá trị pháp lý.
[3]. Qua trình điều tra truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
[4]. Căn cứ kết tội đối với bị cáo Văn Đình K: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại thôn V, xã TT, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo Văn Đình K lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe đạp điện nhãn hiệu HTC của anh Văn Đình M có giá trị là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) thì bị phát hiện. Xét thấy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Văn Đình K đã thực hiện là đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản. Tội này được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Văn Đình K về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5]. Xét về tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Văn Đình K có tính chất cơ hội nhưng hành vi này rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo vẫn nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, nếu xâm phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng vì động cơ tham lam, vụ lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi tội phạm. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian vừa đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Văn Đình K không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Văn Đình K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Văn Đình K là có căn cứ nhưng đề nghị áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (từ 04 tháng tù đến 05 tháng tù) là chưa phù hơp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, chưa đủ tác dụng để giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Văn Đình M khai đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo Văn Đình K phải bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Phan Trường T, tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nhưng tại cơ quan điều tra khai đã nhận lại số tiền bồi mua bán tài sản là 1.500.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Văn Đình T cũng không yêu cầu bị cáo K phải trả lại số tiền mà ông đã bỏ ra để bồi hoàn thay cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Về án phí: Bị cáo Văn Đình K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Văn Đình K phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Văn Đình K 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam, là ngày 16/12/2021.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 1, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Văn Đình K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hình sự sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT-Huế; - VKSND tỉnh TT-Huế; - Sở Tư pháp tỉnh TT-Huế; - Công an thị xã Hương Thủy; - Công an tỉnh – Phòng PV06; - VKSND thị xã Hương Thủy; - Bị cáo; - Bị hại; -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Phú |