- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Quốc H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Quốc H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày: 11-02-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ- TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trọng Quý
Ông Nguyễn Thái Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Lê - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Lƣơng Quốc H - tên gọi khác: không; sinh ngày 26 tháng 3 năm 1991, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: xã H, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn C và bà Viên Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh. Hiện tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: anh Tẩy Văn B, sinh năm 1988; nơi cư trú: xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: ông Lương Văn C và anh Vũ Văn H1, đều vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 16/11/2021, Lương Quốc H mượn mủng của anh Vũ Văn H1 để đi câu cá. Đến khoảng 21 giờ, H đi đến khu vực biển thuộc thôn Hà Loan, xã Cộng Hòa, thành phố Cẩm Phả thấy sát bờ đê có chiếc mủng gắn động cơ của anh Tẩy Văn B (trú tại xã C, thành phố C), không có người trông coi. H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc động cơ nhãn hiệu Hyundai gắn liền chân vịt, bên trong gắn bộ định vị GPS nhãn H Vehicle Tracker H610 có tổng trị giá 7.470.000 đồng ở mủng của anh B, mang về sử dụng. H cho mủng của mình cặp mạn bên trái chiếc mủng của anh B, rồi trèo sang dùng hai tay nhấc chiếc động cơ trên để vào mủng của mình. Sau khi lấy được tài sản, H mang về nhà ở xã H, thành phố C cất giấu sau vườn và đi trả mủng cho anh H1. Đến sáng hôm sau, H đến Công an xã Cộng Hòa đầu thú và tự nguyện giao nộp lại toàn bộ tài sản trộm cắp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 73/KL-ĐG ngày 19/11/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng thành phố Cẩm Phả, kết luận: 01 bộ chân vịt bằng kim loại, 01 động cơ xăng nhãn hiệu Hyundai có giá định giá là 5.850.000 đồng; 01 thiết bị GPS nhãn hiệu Vehicle Tracker H610 có giá định giá là 1.620.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.470.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho anh Tẩy Văn B.
Quá trình điều tra, Lương Quốc H khai nhận đã trộm cắp tài sản của anh B như trên. H còn khai: H không nói cho anh H1 biết việc H dùng chiếc mủng đã mượn của anh H1 để trộm cắp tài sản và đem tài sản trộm cắp được về nhà cất giấu.
Bị hại anh Tẩy Văn B trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt có lời khai, quan điểm thể hiện: khoảng 16 giờ ngày 16/11/2021 anh có sử dụng chiếc mủng có gắn động cơ xăng nhãn hiệu Hyundai gắn liền chân vịt, bên trong gắn bộ định vị GPS nhãn hiệu Vehicle Tracker của mình để đi đánh cá trên biển thuộc xóm 2, thôn Hà Loan, xã Cộng Hòa, thành phố Cẩm Phả, nhưng do thời tiết không thuận lợi nên anh quay về nhà. Sáng hôm sau, anh phát hiện động cơ xăng có gắn chân vịt, bên trong gắn bộ định vị trên mủng của mình bị mất nên đã đến cơ quan Công an trình báo. Sau đó, anh được biết tài sản của anh đã bị Lương Quốc H trộm cắp. Anh đã được trả lại toàn bộ tài sản mà H chiếm đoạt, không bị thiệt hại gì nên không yêu cầu H phải bồi thường. Về phần hình phạt, anh đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Người làm chứng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện:
Anh Vũ Văn H1 khai: anh và H là bạn bè xã hội. Khoảng 20 giờ ngày 16/11/2021, H có hỏi mượn anh chiếc mủng mà anh hay sử dụng đi đánh cá để đi soi cù kỳ và bắt cá, anh đồng ý. Sau đó, H đã trả lại chiếc mủng trên cho anh. Anh không biết H sử dụng chiếc mủng của anh làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Ông Lương Văn C khai: ông là bố của H. Khoảng 13 giờ ngày 17/11/2021, H có nói cho ông biết việc tối ngày 16/11/2021 đã trộm cắp tài sản trên chiếc mủng gỗ neo đậu tại xóm 2, thôn Hà Loan, gồm 01 động cơ xăng có gắn ống trụ, đầu ống trụ dài có gắn cánh quạt làm chân vịt, bên trong động cơ có thiết bị định vị GPS. Sau đó, ông đã cùng H mang số tài sản mà H trộm cắp được, lên cơ quan Công an để H đầu thú và tự nguyện giao nộp lại toàn bộ tài sản.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSCP ngày 13/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lương Quốc H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Quốc H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lương Quốc H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Bị cáo Lương Quốc H thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận; tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lương Quốc H đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh khám nghiệm hiện trường; Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng thành phố Cẩm Phả; Biên bản thực nghiệm điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đã được làm rõ tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 16/11/2021, tại khu vực bờ đê thôn Hà Loan, xã Cộng Hòa, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Lương Quốc H có hành vi trộm cắp một bộ động cơ máy thủy gắn liền chân vịt và bộ định vị GPS của anh Tẩy Văn B, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 7.470.000 đồng.
Vậy nên việc truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số: 13/CT-VKSCP ngày 13/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội, với tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại anh Tẩy Văn B, được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng do bản tính tham lam nên đã lợi dụng đêm tối, địa điểm ít người qua lại, tài sản không có người trông coi, bị cáo đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp 01 động cơ nhãn hiệu Hyundai gắn liền chân vịt, bên trong gắn bộ định vị GPS nhãn hiệu Vehicle Tracker H610 có tổng trị giá 7.470.000 đồng của anh Tẩy Văn B, nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú, tự nguyện nộp lại toàn bộ tài sản đã trộm cắp để trả lại cho bị hại; bị hại có quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng do vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ tài sản trộm cắp để trả cho bị hại, bị hại có quan điểm đã nhận lại toàn bộ tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án: không có nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Vũ Văn H1 đã cho H mượn chiếc mủng có gắn động cơ nhưng anh H1 không biết H sử dụng chiếc mủng này làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không đề cập xử lý đối với H1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lương Quốc H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lương Quốc H 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lương Quốc H cho Uỷ ban nhân dân xã Cẩm Hải, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Cẩm Hải, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo H.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Lương Quốc H.
Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lương Quốc H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Án xử công khai, có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Cẩm Phả; - CCTHADS thành phố Cẩm Phả; - Bị cáo; Bị hại; - CQCSĐT Công an thành phố Cẩm Phả; - CQTHAHS Công anthành phố Cẩm Phả; - Lưu: HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thu Đông |