vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo HTH, NXT và BVT1 phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, Điểm s, i, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HB. HS. HTH và đồng phạm ĐB - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo HTH, NXT và BVT1 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày 18 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.

2. Bà Phạm Thị Cung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2021/TLST - HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: HTH, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1966 tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: A, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: HĐB (đã chết) và bà: LTK (đã chết); Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; có chồng NVT (đã chết) và 02 con, con lớn nhất 32 tuổi, con nhỏ nhất 30 tuổi.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2021 đến ngày 24/8/2021, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: NXT, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1983 tại Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: A, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: NXM (đã chết) và bà: HTT (đã chết); Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con út; có vợ HTT, sinh năm 1985 và 02 con, con lớn nhất 14 tuổi, con nhỏ nhất 01 tuổi.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2021 đến ngày 24/8/2021, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: BVT1, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1993 tại xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: BVB, sinh năm 1968 và bà: LTY, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ TTH, sinh năm 1994 và 02 con, con lớn nhất 04 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2021 đến ngày 24/8/2021, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông HNT, sinh năm 1968 (Vắng mặt).

Địa chỉ: A, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng: Bà LTT, sinh năm 1967 (Vắng mặt).

Địa chỉ: P, Thị trấn B, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào 18 giờ 05 phút ngày 20/8/2021, Công an Thị trấn B nhận được tin báo tại nhà của HTH ở A, Thị trấn B, huyện Yên Định, đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Lực lượng công an đã tiến hành xác minh và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với HTH khi đang tổng hợp bảng lô, đề với tổng số tiền là 8.060.000 đồng, thu giữ 01 bảng lô đề, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu xanh phục vụ công tác điều tra. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở nhà HTH, cơ quan công an thu giữ số tiền 1.190.000 đồng (BL 27).

Tại cơ quan điều tra, HTH giao nộp thêm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và khai nhận: Ngày 20/8/2021, H ở nhà và nhận ghi số lô, số đề cho người chơi gọi điện đến vào điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu xanh bên trong có lắp 02 số thuê bao là 0373 835 241 và số 0985 048 750. Sau đó tổng hợp thành một bảng số lô, số đề ra giấy, rồi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo truy cập vào ứng dụng phần mềm zalo với nick “Hồ H” và chụp ảnh chuyển cho BVT1 qua nick zalo “Truong Bui”, mục đích để thu lợi bất chính. Đối với số tiền 1.190.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp, H khai nhận số tiền trên là tiền cá nhân của H nhưng nếu người chơi trúng thưởng H sẽ sử dụng số tiền trên để thanh toán cho người chơi trước, sau đó sẽ thanh toán với T1 sau (BL 129-132).

Về phương thức chơi, H và những người chơi thỏa thuận, quy ước với nhau là lấy kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày để xác định thắng thua. Số đề, số lô được quy ước là số tự nhiên có hai chữ số (tính từ 00 đến 99), người chơi có thể mua một hoặc nhiều số khác nhau. Số trúng đề là số trùng với hai số cuối của giải đặc biệt của Xổ số kiến thiết Miền Bắc trong ngày, với tỉ lệ ăn thua là 01 ăn 80 lần. Số lô được tính theo điểm mua của mỗi số, mỗi điểm lô tương ứng với số tiền là 22.500 đồng. Số trúng lô là số trùng với hai số cuối của tất cả các giải của Xổ số kiến thiết Miền Bắc trong ngày, tỉ lệ ăn thua là 01 điểm lô ăn 80.000 đồng. Nếu thua người chơi sẽ mất số tiền đã đánh (BL 124-125).

Qúa trình điều tra xác định, trong ngày 20/8/2021 HTH đã bán các số lô, số đề cho người chơi với tổng số tiền là 8.060.000 đồng, cụ thể:

Bán cho NXT, sinh năm 1983 ở A, Thị trấn B, huyện Yên Định, Thanh Hóa bằng cách: T sử dụng điện thoại di động Iphone 6 của mình, có số thuê bao 0978 228 058 gọi điện thoại đến số thuê bao 0373 835 241 của HTH mua các số lô, số đề với tổng số tiền tương ứng gồm các số đề 76, 67, 17, 71, 18, 81, 08, 80, 07, 70 mỗi số 50.000 đồng; 29, 92, 38, 83, 35, 53, 78, 87, 28, 82 mỗi số 30.000 đồng. Các số lô gồm 54, 34 mỗi số 10 điểm; 14, 41 mỗi số 50 điểm; 57, 75 mỗi số 100 điểm. Tổng số lô T chơi là 320 điểm, tương ứng với số tiền 7.200.000 đồng, số đề tương ứng với số tiền là 800.000 đồng. Tổng số tiền lô, tiền đề T mua bán với HTH là 8.000.000 đồng (BL 122-123).

Bán cho HNT, sinh năm 1968 ở A, Thị trấn B, huyện Yên Định: Thanh sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng của mình có số thuê bao 0397 620 051 để gọi điện thoại đến số thuê bao 0985 048 750 của HTH, mua các số đề 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90, 00 (dãy số đề đầu 0, đít 0 gồm 20 số), mỗi số 3.000đ. Tổng số tiền tương ứng với số đề Thanh mua của H ngày 20/8/2021 là 60.000 đồng (BL 122-123).

Do có mối quan hệ quen biết nhau nên H cho T và Thanh nợ tiền số lô, số đề, khi có kết quả sẽ thanh toán sau. Như vậy, ngày 20/8/2021 HTH nhận mua bán số lô, số đề của hai người tương ứng với tổng số tiền là 8.060.000 đồng, trong đó có 320 điểm lô, tương ứng số tiền là 7.200.000 đồng, các số đề tương ứng với số tiền là 860.000 đồng.

Sau khi bán các số lô, số đề cho NXT và HNT thì H tổng hợp toàn bộ số lô, số đề đã nhận, ghi vào tờ giấy trắng gọi là bảng số lô, số đề và chụp ảnh chuyển bằng cách gửi tin nhắn zalo cho BVT1, sinh năm 1993 ở Thôn C, xã Y, huyện Yên Định vào lúc 18 giờ cùng ngày để hưởng tiền H hồng. T1 nhắn tin lại “Ok” (Tức là đồng ý). Giữa H và T1 thỏa thuận trích tiền H hồng là: đối với mỗi số lô H được trích 500 đồng/01 điểm lô, đối với số đề H nhận của khách 100.000 đồng thì H sẽ được trích 6% H hồng. Do T và Thanh chưa thanh toán tiền cho H nên H mới chuyển bảng đề cho T1 và chưa thanh toán tiền cho T1, T1 cũng chưa trích tiền H hồng cho H.

Trong khi HTH đang thực hiện hành vi tổng hợp số lô, số đề chuyển cho BVT1 thì bị bắt, lúc này chưa có kết quả Xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày. Sau khi H bị bắt thì NXT và BVT1 đến Cơ quan điều tra công an huyện Yên Định đầu thú và khai nhận hành vi mua bán số lô, số đề với HTH vào chiều ngày 20/8/2021. Đồng thời T1 tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A91 màu trắng xanh, đây là chiếc điện thoại mà T1 sử dụng để nhận hình ảnh bảng số lô, số đề do H chuyển ngày 20/8/2021 qua ứng dụng zalo.

Lời khai của các đối tượng mua bán số lô, số đề là phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, đủ cơ sở xác định: Trong ngày 20/8/2021, HTH đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 8.060.000đ; NXT đã đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề với tổng số tiền là 8.000.000đ; BVT1 đã đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề với tổng số tiền là 8.060.000đ.

Đối với HNT có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề của HTH với số tiền là 60.000đ. Tuy nhiên, Thanh chưa có tiền án, tiền sự và số tiền đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Yên Định đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Thanh là phù hợp (BL 122).

Đối với chiếc điện thoại của NXT và HNT, do T và Thanh đã làm rơi, không biết vị trí ở đâu nên cơ quan điều tra không truy tìm được. Đối với chiếc bút mực xanh của H dùng để ghi số lô, số đề, khi công an bắt quả tang do lo sợ nên H không nhớ rõ chiếc bút để ở đâu và cơ quan điều tra không truy tìm được.

Xác minh về nhân thân, HTH, NXT và BVT1 chưa có tiền án, tiền sự. Xác minh về điều kiện tài sản, thu nhập xác định T1 và T là lao động tự do, HTH đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng thuộc diện khuyết tật nặng (BL 106, 141, 168).

Về vật chứng vụ án: Thông qua bắt người quả tang, quá trình khám xét tại chỗ, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 bảng đề tổng hợp được vào ngày 20/8/2021, có chữ ký xác nhận của HTH, hiện được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, màu xanh (đã qua sử dụng) của H;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, mặt trước cảm ứng màu đen, mặt sau màu xanh (đã qua sử dụng) do H tự nguyện giao nộp;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A91 màu trắng xanh (đã qua sử dụng) do T1 tự nguyện giao nộp;

- Số tiền 1.190.000đ cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở HTH.

Số vật chứng hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSYĐ ngày 01/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố HTH, NXT và BVT1 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo HTH, NXT và BVT1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo HTH, NXT và BVT1 phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s, p Khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo HTH từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo BVT1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị xử phạt bị cáo NXT từ 07 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo H, T và T1.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, màu xanh (đã qua sử dụng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, mặt trước cảm ứng màu đen, mặt sau màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A91 màu trắng xanh (đã qua sử dụng).

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.190.000đ và số tiền 8.060.000đ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Các bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đều mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định; hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo HTH, NXT và BVT1 đã hoàn toàn thừa nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên ngày 20/8/2021, HTH đã dùng nơi ở của mình tại A, Thị trấn B, huyện Yên Định để đánh bạc trái phép dưới hình thức mua, bán số lô, số đề qua điện thoại với tổng số tiền là 8.060.000đ (trong đó NXT gọi điện thoại ghi số lô, số đề với số tiền là 8.000.000đ, HNT gọi điện ghi số đề với số tiền là 60.000đ). Sau đó H tổng hợp số lô, số đề do T và Thanh ghi trong ngày là 8.060.000đ vào một bảng số lô, số đề rồi dùng điện thoại chụp ảnh gửi toàn bộ ảnh bảng số lô, số đề này qua tin nhắn zalo cho BVT1 để được hưởng tiền H hồng. Khi H bị bắt chưa có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc.

Lời khai nhận của các bị cáo H, T và T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua, bán số lô, số đề của HTH, NXT và BVT1 đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Đây là vụ án đánh bạc có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng. Mọi hành vi đánh bạc với mục đích sát phạt nhau bằng tiền đều phải xử lý. Vì vậy, cần thiết phải xử lý thật nghiêm để giáo dục, đồng thời răn đe kẻ khác có ý định phạm tội.

Đánh giá tính chất đồng phạm là giản đơn, trong đó HTH là người trực tiếp nhận số lô, số đề của những người chơi và khi có bảng đề đã chủ động chuyển cho BVT1 nên H phải chịu vai trò cao hơn T và T1; BVT1 đồng ý nhận bảng đề do H chuyển đến; NXT là người đánh số lô, số đề với H, có số tiền tham gia đánh bạc ít hơn nên T giữ vai trò sau cùng.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc T1 hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s, i Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo H là người khuyết tật nặng, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng chiến sỹ cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo T và T1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự kHn hồng của pháp luật.

Do vậy, căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến vị trí vai trò của các bị cáo để cá thể hóa hình phạt cho phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H là người khuyết tật nặng, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng; bị cáo T và T1 không có thu nhập ổn định, chưa có tài sản riêng, đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

[5] Đối với hành vi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trong vụ án này, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Định xác định ông HNT là người đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề của H trong ngày 20/8/2021 với số tiền là 60.000 đồng. Tuy nhiên, Thanh chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc và số tiền đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của ông T không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” nên công an huyện Yên Định đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thanh là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bảng đề tổng hợp vào ngày 20/8/2021, có chữ ký xác nhận của HTH, được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, mặt trước cảm ứng màu đen, mặt sau màu xanh (đã qua sử dụng) của HTH; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A91 màu trắng xanh (đã qua sử dụng) của BVT1. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là công cụ phương tiện phạm tội, các bị cáo dùng để gọi điện, nhắn tin qua zalo để ghi số lô, số đề, nhận và chuyển bảng đề, vì vậy nghĩ nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 1.190.000đ thu giữ của HTH, quá trình điều tra và tại phiên tòa H khai số tiền này là tiền cá nhân của H nhưng nếu người chơi trúng thưởng H sẽ dùng số tiền này để thanh toán cho những người chơi trước. Xét thấy, số tiền này có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.

- Đối với số tiền theo bảng số lô, số đề các bị cáo và người liên quan tham gia đánh bạc trái phép trong ngày 20/8/2021 là 8.060.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc các bên thỏa thuận đánh số lô, số đề với nhau nhưng chưa thanh toán tiền cho nhau thì bị bắt. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nhận thấy hành vi ghi số lô, số đề là trái pháp luật nên bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nộp toàn bộ số tiền theo bảng số lô, số đề này tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định. Do vậy, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền theo bảng số lô, số đề là phù hợp quy định của pháp luật.

- Đối với chiếc điện thoại của T và Thanh dùng gọi điện cho H để ghi số lô, số đề; chiếc bút mực xanh H dùng để tổng hợp số lô, số đề. Nhưng sau đó T, Thanh và H không nhớ đã rơi điện thoại, để bút ở đâu, Cơ quan điều tra không truy tìm được nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo HTH, NXT và BVT1 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, Điểm s, i, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo HTH 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, Điểm s, i Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo NXT 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo BVT1 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo HTH và NXT cho UBND Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; bị cáo BVT1 cho UBND xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

T1 hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo HTH, NXT và BVT1.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.190.000đ (Một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) theo giấy ủy nhiệm chi ngày 07/12/2021 của công an huyện Yên Định đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định và số tiền 8.060.000đ (Tám triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0001669 ngày 14/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel, màu xanh (đã qua sử dụng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, mặt trước cảm ứng màu đen, mặt sau màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A91 màu trắng xanh (đã qua sử dụng) theo phiếu nhập kho số NK 12 ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo HTH, NXT và BVT1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

T1 hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ