- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Bá Q - Lừa đảo - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 174; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày 15-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Huy Vượng.
2. Ông Lò Văn Yêu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Bá Q, tên gọi khác: không, sinh năm 1982 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Bá Q – sinh năm 1960 và con bà: Riêu Thị D - sinh năm 1961; vợ: Chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Lù Thị V – sinh năm: 1983 và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi hành chính số 67/QĐ-XPHC ngày 09/6/2019 của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, xử phạt Nguyễn Bá Q số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hiện đã chấp hành xong quyết định và đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt người bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 16/5/2022, đến ngày 25/5/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Tráng A C sinh năm 1985, trú tại bản M, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Thào A N, sinh năm 1999, trú tại bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/4/2022, Nguyễn Bá Q gặp Tráng A C và con rể tên là Thào A N tại quán sửa xe mô tô “Tiến Ca” thuộc địa phận bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Tại đây, C nói với Q về việc có vợ của C tên là Lù Thị X vừa bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Trồng cây Thuốc phiện” và Q cho C số điện thoại để tiện liên lạc, lúc này N bận sửa xe nên không biết việc Q và C trao đổi. Tuy Nguyễn Bá Q là lao động tự do, bản thân Q là người nghiện chất ma túy, không có khả năng trực tiếp hay làm trung gian để đưa của cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác, tổ chức khác để người có chức vụ, quyền hạn làm theo yêu cầu của Q nhưng do không có tiền tiêu xài nên Q nói dối C là có quen biết với người có chức vụ, quyền hạn làm ở cơ quan tiến hành tố tụng nên có thể xin được cho X không phải nhận án hình phạt tù và yêu cầu C đưa số tiền 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng cho Q để Q “chạy án” giúp.
Nghe vậy, Tráng A C tin tưởng Q là người trung gian có quen biết với người có chức vụ, quyền hạn làm ở cơ quan tiến hành tố tụng để “chạy án” cho Lù Thị X không phải nhận án hình phạt tù nên đồng ý đưa tiền cho Q. Sau khi trao đổi, Q yêu cầu đưa số tiền 40.000.000 đồng để Q lo giúp X, C nhất trí. Do không có đủ số tiền trên nên C trao đổi với Q sẽ đưa tiền nhiều lần, Q nhất trí. Sau đó, C nói là hiện tại có 10.000.000 đồng nên Q dẫn C đi lên đến đoạn đường Quốc lộ 32, thuộc địa phận tổ dân phố 26, thị trấn Tân Uyên (ngay đoạn đường rẽ lên cổng Công an huyện Tân Uyên) và nhận của C số tiền 10.000.000 đồng (gồm 20 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng), số tiền này Q mang về nhà cất giấu không cho ai biết. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/4/2022, C đã mượn điện thoại di động của con rể tên là Thào A N lắp sim số điện thoại 0917867487 của C và gọi đến số điện thoại 0387279569 của Q để hỏi về tình hình “chạy án” và hẹn gặp nhau. Tại nhà của Q, C đến và đưa tiếp cho Q số tiền 15.000.000 đồng (gồm 30 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng). Đến khoảng 11 giờ ngày 16/5/2022, C đến gặp Q để hỏi về việc “chạy án” cho X xem tình hình thế nào thì Q yêu cầu đưa thêm 10.000.000 đồng nữa, tổng là 35.000.000 đồng để Q đi lo việc theo yêu cầu của C. Tin tưởng vậy, nên C về nhà đi vay thêm 10.000.000 đồng nữa để đưa cho Q. Đến hồi 15 giờ cùng ngày, Tráng A C nghi ngờ bản thân đã bị Q lừa tiền nên đã gọi điện đến số điện thoại trực ban của Công an huyện Tân Uyên trình báo sự việc đưa tiền cho Q để “chạy án” nhưng bị lừa và yêu cầu giải quyết. Đến hồi 16 giờ cùng ngày, C nhờ Thào A N điều khiển xe chở C đến bản Tân Dương, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên để C đưa số tiền 10.000.000 đồng còn lại cho Q thì bị lực lượng Công an huyện Tân Uyên phát hiện và đưa về trụ sở Công an huyện Tân Uyên để làm rõ vụ việc. Thu giữ của Tráng A C số tiền 10.000.000 đồng (gồm 50 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng). Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Bá Q thu giữ số tiền 25.000.000 đồng (gồm 50 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng), Q khai nhận số tiền này là tiền của Tráng A C đưa để Q giúp vợ C là Lù Thị X không phải nhận bản án phạt tù.
Ngày 25/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên khởi tố đối với Nguyễn Bá Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 15/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên khởi tố đối với Tráng A C về tội “Đưa hối lộ” và đến ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can đối với Tráng A C về tội “Đưa hối lộ”.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Bá Q trong quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, IMEI 1: 351639348471301; IMEI 1: 351639349471300, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp 01 số sim nhà mạng Viettel số thuê bao 0387279569, phôi sim mang dãy số 8984048000335843787.
- Vật chứng thu giữ của Thào A N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1k, màu đen, loại màn hình cảm ứng, IMEI 1: 863539043123911; IMEI 2: 863539043123903, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, lắp 01 số sim nhà mạng Vinaphone số thuê bao 0917867487, phôi sim mang dãy số 89840200011412250290.
- Vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Bá Q: Số tiền 25.000.000 đồng.
- Vật chứng thu giữ của Tráng A C là số tiền 10.000.000 đồng.
Tại kết luận giám định số 431/KL-KTTH ngày 27/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Số tiền 35.000.000VNĐ gửi đến giám định là tiền thật”.
Bản Cáo trạng số 77/CT -VKS - TU, ngày 13/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Nguyễn Bá Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen thu giữ của bị cáo Q, tịch thu tiêu hủy 02 phôi sim điện thoại.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Tráng A C đã nhận lại số tiền bị cáo Nguyễn Bá Q lừa đảo chiếm đoạt và không đề nghị gì thêm nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá Q đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị hại anh Tráng A C khai đã nhận lại tiền và không yêu cầu về bồi thường dân sự, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Bằng thủ đoạn gian dối, từ ngày 13/4/2022 đến ngày 16/5/2022, tại địa phận thị trấn Tân Uyên và xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Bá Q đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 35.000.000 đồng của Tráng A C, mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Bá Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên bị có có nhân thân xấu, năm 2019 bị cáo bị Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hiện đã được xóa tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định trên mức khởi điểm của khung hình phạt đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng
- Đối với số tiền 35.000.000 đồng của anh Tráng A C. Xét thấy Tráng A C tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm theo quy định tại khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự, Tráng A C có đơn xin lại tài sản nên ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ số tiền trên cho Tráng A C là đúng quy định của pháp luật. Bị hại Tráng A C đã nhận lại số tiền bị cáo Q chiếm đoạt và không đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1k, màu đen, loại màn hình cảm ứng xác định là tài sản hợp pháp của anh Thào A N, anh N không biết việc Thào A C mượn điện thoại của N để liên lạc với bị cáo Q. Ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho anh N là đúng quy định.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen thu giữ của bị cáo Q là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 số sim nhà mạng Viettel số thuê bao 0387279569, phôi sim mang dãy số 8984048000335843787, đã qua sử dụng. 01 số sim nhà mạng Vinaphone số thuê bao 0917867487, phôi sim mang dãy số 89840200011412250290, đã qua sử dụng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các đối tượng, hành vi liên quan đến vụ án:
Trong vụ án này, Tráng A C đã tin tưởng Nguyễn Bá Q là người có khả năng làm trung gian để đưa tiền cho người có chức vụ, quyền hạn ở các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Tân Uyên để “chạy án” nên đã đưa số tiền 35.000.000 đồng, mục đích giúp cho vợ C là Lù Thị X không phải nhận bản án hình phạt tù về tội “trồng cây Thuốc phiện”. Ngày 15/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên khởi tố đối với Tráng A C về tội “Đưa hối lộ” theo khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra xác định, Tráng A C tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi hành vi phạm tội bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên căn cứ khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra đối với bị can Tráng A C về tội “Đưa hối lộ” quy định tại khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với Lù Thị X là vợ của Tráng A C, quá trình điều tra xác định X không biết việc C thực hiện hành vi đưa hối lộ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý đối với Lù Thị X là có căn cứ.
Trong vụ án này, Thào A N là người điều khiển xe mô tô chở Tráng A C đi đưa tiền hối lộ cho Nguyễn Bá Q và cho mượn điện thoại để C gọi điện thoại. Quá trình điều tra xác định Thào A N không biết mục đích C đưa tiền và gọi điện cho Q để làm gì, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý đối với Thào A N là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 174; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Q 01 năm 10 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 16/5/2022 đến ngày 25/5/2022) còn phải chấp hành 01 năm 09 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Bá Q.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, IMEI 1: 351639348471301; IMEI 1: 351639349471300, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 số sim nhà mạng Viettel số thuê bao 0387279569, phôi sim mang dãy số 8984048000335843787, đã qua sử dụng. 01 số sim nhà mạng Vinaphone số thuê bao 0917867487, phôi sim mang dãy số 89840200011412250290, đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 30 phút, ngày 07/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Bá Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |