vanban.org

Bản án 13/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Ngọc V bị xét xử Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-ST
Ngày: 12/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Tín.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Hữu Vinh;

2. Bà Hoàng Thị Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Y Đum Kpă - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2022/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST – HS, ngày 30 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên:

; Sinh ngày 17/4/1997, tại: tỉnh Đắk Lắk; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T

P

K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông

Văn N và bà

h;

Tiền án: Không.

B

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lời và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Ngọc N; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).

2. Bà Trần Thị Bạch L; Địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người làm chứng: Bà Bùi Thị Huyền Tr; Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

V

gày 01 tháng 01 năm 2022, Nguyễn Ngọc V đến Bến xe thị xã B

300.000 đồng

3.000.000 đồng

một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch

V

a cho V

V

thôn T

P

K

V

-

Khi V đi đến thôn A, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm, kinh tế ma túy Công an huyện Krông Búk phát hiện,

bắt quả tang thu giữ

V 01 túi nylon màu trắng bên trong túi nylon có chứa 10 (mười) nhựa màu trắng, bên trong mỗi

nhựa có chứa các tinh thể màu trắng, được niêm phong theo quy định và thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 47F3-1005, nhãn hiệu Đream II, màu sơn nâu.

Tại bản kết luận giám định số: 85/GĐMT- PC09, ngày 12/01/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong

có

Đồ vật, tài liệu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk thu giữ bắt người phạm tội quả tang gồm:

văn

-1005.

Tại Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 23/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk truy tố bị cáo

V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo

V 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 04/01/2022 đến ngày 13/01/2022).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định

có khối lượng 0,7844gam

Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu đựng trong 01 phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Ngọc V” được niêm phong có các chữ ký, ghi tên Tống Duy Ph, Nguyễn Bá H và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk.

- Đề nghị chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47F3-1005, nhãn hiệu Đream II, màu sơn nâu cho ông Nguyễn Ngọc N là chủ sở hữu hợp pháp. Vì ông N không biết việc bị V mượn xe rồi sử dụng đi mua ma túy.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận quyết định truy tố và quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Búk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo xét thấy: Bị

Nguyễn Ngọc V là người nghiện ma túy, để

vào ngày 01/01/2022, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk bị V mua 10 ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân lai

với giá 3.000.000 đồng. Đến

ngày 03/01/2022,

V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47F3-100

thôn A, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để

sử dụng

thì bị

Công an huyện Krông Búk

bắt quả tang

V

-1005.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên đây của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Đánh giá tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của bản thân. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý độc quyền của Nhà nước, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

B

Bị cáo không lấy đây là bài học tu dưỡng cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi t thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá và nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy:

Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

- ch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định

có khối lượng 0,7844gam

Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu đựng trong 01 phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Ngọc V” được niêm phong có các chữ ký, ghi tên Tống Duy Ph, Nguyễn Bá H và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk. (Vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk).

- Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47F3-1005, nhãn hiệu Đream II, màu sơn nâu cho ông Nguyễn Ngọc N là chủ sở hữu hợp pháp. Vì ông N không biết việc bị

V mượn xe rồi sử dụng đi mua ma túy.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo

V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo

V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 04/01/2022 đến ngày 13/01/2022).

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- ch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định

có khối lượng 0,7844gam

Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu đựng trong 01 phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Ngọc V” được niêm phong có các chữ ký, ghi tên Tống Duy Ph, Nguyễn Bá H và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk. (Vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk).

- Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47F3-1005, nhãn hiệu Đream II, màu sơn nâu cho ông Nguyễn Ngọc N là chủ sở hữu hợp pháp. Vì ông N không biết việc bị

V mượn xe rồi sử dụng đi mua ma túy.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo

V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ