- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Ngọc L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ H TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày 08-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ H, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Lập
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Anh Tuấn
Ông Trịnh Hữu Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Mộng Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2022/QĐST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Ngọc L, sinh năm 1955 tại tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn Mađaguôi, huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Lương Ngọc Lan và bà Nông Thị Ý (đều đã chết); có vợ là Lê Thị Kim Chúc, sinh năm 1957; bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại Tổ dân phố 3, thị trấn Mađaguôi huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Cát Đằng, sinh năm 1977 - Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng - Chi nhánh TGPL số 1 - Địa chỉ: 31, đường Lê Hồng Phong, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Bị hại: Ông Lê Minh Thủy, sinh năm 1969; trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn Mađaguôi, huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Người làm chứng: Anh Lê Võ Khắc, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn Mađaguôi, huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn gia đình từ trước nên giữa bị cáo Lương Ngọc L (bị cáo L) - là anh rể và ông Lê Minh Thủy (ông Thủy) - là em vợ xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/9/2020, bị cáo Lương Ngọc L trên đường đi làm rẫy về, trên tay cầm theo con dao phát đi ngang qua cổng nhà ông Lê Minh Thủy thì giữa hai bên tiếp tục cãi vã nhau. Lúc này, bị cáo L đẩy cổng nhà ông Thủy và đi vào sân nhà ông Thủy, tay phải bị cáo L cầm theo con dao phát và hai bên lao vào xô xát với nhau tại sân nhà ông Thủy. Thời điểm này, anh Lê Võ Khắc là con trai của ông Thủy đang xem điện thoại trong nhà thì nghe thấy tiếng ồn nên chạy ra thì nhìn thấy bị cáo và ông Thủy đang xô xát, giằng co với nhau liền chạy đến can ngăn nhưng không được nên dùng điện thoại di động quay lại sự việc bị cáo và ông Thủy giằng co con dao phát với nhau cho đến khi bị cáo bỏ đi về, sau đó giao nộp cho Cơ quan Công an huyện Đạ H.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 02/11/2020 bị cáo bị tai nạn giao thông phải nhập viện điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Quân Y 7A, Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 20/4/2022 mới đến Cơ quan điều tra để làm việc. Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên (các bút lục số 107-123).
Người bị hại khai: Vào sáng ngày 09/9/2020, khi đang ở trong nhà thì bị cáo đẩy cổng đi vào rồi dùng con dao phát chém nhưng ông Thủy né được, đồng thời ông Thủy chụp, giữ được con dao phát của bị cáo và hai bên tiếp tục giằng co, xô xát với nhau dẫn đến bị thương tích. Sau khi bị cáo đi về ông Thủy được người nhà đưa đến Trung tâm y tế huyện Đạ H để điều trị thương tích. Theo xác nhận của Trung tâm y tế huyện Đạ H thì ông Thủy bị thương tích: Mặt trong cánh tay trái có vết thương dài 05cm, sâu 0,2cm, chảy máu; Dưới nách giữa trái có vết thương dài 01cm, sâu 0,1 cm, chảy máu; Trầy da thái dương phải. Đến ngày 11/9/2020, ông Thủy có đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo (các bút lục số 124-138).
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 230/2020-TgT ngày 20/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo đường nách giữa bên trái 2,5cm, Sẹo mặt trong cảnh tay trải 1,5cm; Thay đổi sắc tố da vùng thái dương phải 2x2cm.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Minh Thủy 3% (ba phần trăm). Theo nguyên tắc cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ y tế.
- Tổn thương do vật sắc gây nên (các bút lục 34-35).
Về vật chứng, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) con dao phát có kích thước dài 88cm, cán dao bằng gỗ dài 59cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, đầu lưỡi dao rộng 06cm (các bút lục số 28; 94; 95).
Ngoài ra thu giữ: 01 (một) USB bên trong có đoạn video-clip ghi lại sự việc giằng co giữa bị cáo và ông Thủy vào ngày 09/9/2020 (các bút lục số 29; 157).
Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Người bị hại có đơn yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ chi phí cho việc điều trị, chữa trị thương tích, tiền công lao động bị mất, giảm sút, tiền công người chăm sóc, tiền thuê xe đi giám định, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 50.569.553,8 đồng (năm mươi triệu năm trăm sáu mươi chín ngàn năm trăm năm mươi ba phẩy tám đồng), bị cáo không đồng ý với mức yêu cầu bồi thường nêu trên và đề nghị chuyển phần bồi thường trách nhiệm dân sự này ra Tòa án để giải quyết (các bút lục số 56; 148).
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-ĐH ngày 08/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội Thẩm nhân dân. Tại phần tranh luận bị cáo không kêu oan, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị. Tại L nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường: Bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại toàn bộ chi phí cho việc điều trị, chữa trị thương tích, tiền công lao động bị mất, giảm sút, tiền công người chăm sóc, tiền thuê xe đi giám định, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- Người bào chữa cho bị cáo xác định các trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật; Tại phần tranh luận không có ý kiến tranh luận với bản luận tội về tội danh; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị. Đề nghị Hội đồng cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất có thể.
- Người bị hại khẳng định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/9/2020, bị cáo có hành vi gây thương tích cho ông Thủy như đúng cáo trạng đã nêu. Kết quả làm ông Thủy bị thương tích là 3%. Ông Thủy đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Rút một phần yêu cầu bồi thường đối với bị cáo, đồng thời chỉ yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí cho việc điều trị, chữa trị thương tích, tiền công lao động bị mất, giảm sút, tiền công người chăm sóc, tiền thuê xe đi giám định, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 19.644.288 đồng (mười chín triệu sáu trăm bốn mươi bốn ngàn hai trăm tám mươi tám đồng).
Người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án.
- Người làm chứng anh Lê Võ Khắc khẳng định hành vị của bị cáo được nêu trong cáo trạng là đúng và không có ý kiến gì khác.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung hay ý kiến gì khác. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao phát có kích thước dài 88cm, cán dao bằng gỗ dài 59cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, đầu lưỡi dao rộng 06cm; lưu tại hồ sơ 01 (một) USB bên trong có đoạn video-clip ghi lại sự việc giằng co giữa bị cáo và ông Thủy vào ngày 09/9/2020.
Về án phí: Bị cáo bị kết án và có nghĩa vụ bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về xác định tội danh: L khai nhận của bị cáo Lương Ngọc L tại phiên tòa hôm nay phù hợp với L khai của người bị hại, người làm chứng cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa về thời gian, địa điểm, phương thức cũng như hung khí, công cụ mà bị cáo đã sử dụng để thực hiện tội phạm. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định:
Do có xích mích, mâu thuẫn từ trước nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/9/2020, bị cáo trên đường đi làm rẫy về, trên tay cầm theo con dao phát đi ngang qua cổng nhà ông Thủy thì giữa hai bên tiếp tục cãi vã nhau. Lúc này, bị cáo đẩy cổng và đi vào sân nhà ông Thủy, tay phải bị cáo L cầm theo con dao phát vừa đi vừa chỉ chỏ về hướng ông Thủy và tiếp tục cãi nhau. Sau đó hai bên xô xát, ôm giằng co nhau con dao phát dẫn đến ông Thủy bị các thương tích: Mặt trong cánh tay trái có vết thương dài 05cm, sâu 0,2cm, chảy máu; Dưới nách giữa trái có vết thương dài 01cm, sâu 0,1 cm, chảy máu; Trầy da thái dương phải. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 230/2020-TgT ngày 20/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của ông Lê Minh Thủy là 3% (ba phần trăm), tổn thương do vật sắc gây nên. Đồng thời người bị hại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng và không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng hành vi gây thương tích cho ông Thủy của bị cáo là vô ý, chứ không phải là cố ý. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo nhận thức được việc bị cáo dùng dao phát là hung khí nguy hiểm có thể dẫn đến gây thương tích cho người khác nhưng vì bực tức bởi những L nói khiêu khích của ông Thủy, thêm vào đó bị cáo đang bị kích thích ức chế do mẫu thuẫn của gia đình kéo dài trong nhiều năm chưa được giải quyết. Do vậy, khi nghe ông Thủy nói những L nói chưa chuẩn mực thì lập tức bị cáo cầm dao chỉ chỏ về hướng ông Thủy khi vị trí con dao trên tay bị cáo cách vị trí của ông Thủy đứng khoảng 50 cm thì theo quán tính cũng như sự tự vệ cần thiết nên ông Thủy đã lao vào bị cáo nhằm tước bỏ con dao từ trên tay của bị cáo dẫn đến việc bị cáo và ông Thủy ôm nhau giằng co, xô xát. Có thể bị cáo không mong muốn có hậu quả xảy ra nhưng trên thực tế hậu quả đã xảy ra (làm ông Thủy bị thương tích). Như vậy, lỗi của bị cáo trong trường hợp này là lỗi “Cố ý gián tiếp” được quy định tại khoản 2 Điều 10 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ H truy tố bị cáo tại cáo trạng số 16/CT-VKS-ĐH ngày 08 tháng 8 năm 2022 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo đã gây thương tích cho người khác gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử cần thiết phải ra một bản án phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Từ trước đến nay bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; chỉ vì bực tức và không làm chủ được bản thân nên nhất thời phạm tội nên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét khi lượng hình.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo dùng dao gây thương tích cho ông Thủy. Kết quả giám định thương tích xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 3% nhưng người bị hại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo phải bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình Điều tra - truy tố - xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bản thân bị cáo đã từng tham gia bảo vệ tổ quốc từ năm 1972 đến năm 1975 với cấp bậc là Trung Sỹ; chức vụ là Tiểu đội trưởng. Được Bộ tư lệnh Quân khu 1 chứng nhận được thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3; Huân chương chiến công hạng 3; Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng 1, 2, 3. Là đối tượng có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ biên giới phía Bắc... nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000đ để khắc phục hậu quả cho người bị hại. Do vậy, bị cáo còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngoài ra, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi nhỏ; trong quá trình cơ quan điều tra giải quyết vụ án thì bị cáo bị tại nạn giao thông kết quả một phần cơ thể của bị cáo phải bị cắt bỏ (bị cáo bị cắt bỏ 01 chân và 01 tay) nên khi lượng hình cũng cần thiết phải xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là hình phạt cải tạo không giam giữ. Tuy nhiên, căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là không tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nên Hội đồng xét xử cần thiết phải áp dụng hình phạt khác.
- Đối với các vấn đề còn lại Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, được gia đình bảo lãnh và bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo cũng đã đủ sức răn đe đối với vị cáo. Đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Trong quá trình Điều tra - truy tố ông Thủy yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 50.569.553,8 đồng (năm mươi triệu năm trăm sáu mươi chín ngàn năm trăm năm mươi ba phẩy tám đồng) cụ thể các khoản như sau: Tiền chi phí nằm viện 07 ngày (từ ngày 09/9/2020 đến ngày 15/9/2020) là 1.449.553 đồng; Tiền công lao động bị mất do không đi làm được là 37 ngày x 350.000 đồng/ngày công lao động phổ thông = 12.950.000 đồng; Tiền ăn uống khi nằm viện điều trị 07 ngày x 60.000 đồng/ngày = 420.000 đồng; Tiền thuê xe đi giám định tại Đà Lạt là 1.500.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần là 25.000.000 đồng; Tiền công người chăm sóc là 37 ngày x 250.000 đồng/ngày = 9.250.000 đồng.
Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm sau khi được Hội đồng xét xử giải thích người bị hại xin rút lại một phần yêu cầu bồi thường của mình và đồng ý nhận bồi thường theo yêu cầu của bị cáo với tổng số tiền là 19.644.288 đồng (mười chín triệu sáu trăm bốn mươi bốn ngàn hai trăm tám mươi tám đồng), cụ thể các khoản phải có nghĩa vụ bồi thường gồm: Tiền chi phí nằm viện 07 ngày (từ ngày 09/9/2020 đến ngày 15/9/2020) số tiền là 264.288 đồng; Tiền ăn, uống trong thời gian nằm viện 07 ngày (từ ngày 09/9/2020 đến ngày 15/9/2020) là 630.000 đồng (07 ngày x 90.000 đồng ngày); Tiền công người chăm sóc khi ông Thủy nằm viện: 07 ngày (từ ngày 09/9/2020 đến ngày 15/9/2020) là 2.100.000 đồng (07 ngày x 300.000 đồng/ngày); Tiền thu nhập thực tế bị mất khi ông Thủy nằm viện: 07 ngày (từ ngày 09/9/2020 đến ngày 15/9/2020) là 2.450.000 đồng (07 ngày x 350.000 đồng/ngày); Tiền thu nhập thực tế bị giảm sút do hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra làm ông Thủy không đủ sức khỏe để lao động hoặc có lao động nhưng giảm sút về năng xuất trong 01 tháng là 5.250.000 đồng (30 ngày x 175.000 đồng/ngày); Tiền thuê xe ô tô để đi giám định sức khỏe tại Đà Lạt là 1.500.000 đồng; Tiền về bù đắp tổn thất tinh thần là 7.450.000 đồng (05 tháng x 1.490.000 đồng).
Trong quá trình Tòa án chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện tạm nộp số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ H. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đồng ý và tiếp tục tự nguyện bồi thường cho ông Thủy số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Do vậy, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Thủy có quyền liên hệ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đạ H để nhận số tiền bồi thường này theo quy định.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với 01 (một) con dao phát có kích thước dài 88cm, cán dao bằng gỗ dài 59cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, đầu lưỡi dao rộng 06cm là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) USB bên trong có đoạn video-clip ghi lại sự việc giăng co giữa bị cáo và ông Thủy vào ngày 09/9/2020. Đây là chứng cứ trực tiếp có liên quan đến vụ án nên lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo bị kết án và có nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương Ngọc L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lương Ngọc L cho Ủy ban nhân dân thị trấn Mađaguôi, huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào các Điều 275, Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lương Ngọc L có trách nhiệm bồi thường cho ông Lê Minh Thủy số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) đã được bị cáo tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ H theo phiếu thu tiền số 0000031 ngày 30 tháng 8 năm 2022. Do vậy, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Lê Minh Thủy có quyền được liên hệ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ H để nhận số tiền bồi thường.
Kể từ ngày bản án có hiệu luật pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao phát có kích thước dài 88cm, cán dao bằng gỗ dài 59cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm, đầu lưỡi dao rộng 06cm (hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ H theo biên bản giao, nhận vật chứng 08/8/2022).
Đối với 01 (một) USB đây là chứng cứ trực tiếp có liên quan đến vụ án nên lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thuờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
- Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân;
- VKSND huyện Đạ H (02);
- Công an huyện Đạ H (01);
- Cơ quan THAHS huyện Đạ H (01);
- Chi cục THADS huyện Đạ H (02);
- UBND thị trấn Mađaguôi (01);
- Bộ phận THA hình sự (04);
Nguyễn Văn Lập
- Bị cáo (01);
- Người bị hại (01);
- Lưu: Hồ sơ vụ án; Án văn (03); Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKS, CA huyện Đạ H;
- Bị hại;
- Bị cáo;
- Lưu THA.
Nguyễn Thị Hà Giang
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |