- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoài T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoài T về việc xin giảm nhẹ hình ph t; Chấp nhận kháng cáo của bị h i Nguyễn Văn N về việc đề nghị tăng mức hình ph t đối với bị cáo Lê Hoài T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Ph…
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-PT Ngày: 28-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Thẩm phán: Ông Trần Phước Hiệu
Bà Trần Thị Thiên Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2022 t i tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 95/2021/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Lê Hoài T, do có kháng cáo của bị cáo Lê Hoài T và bị h i Nguyễn Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo: Lê Hoài T, sinh năm 1989 t i tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn VH, xã VH huyện TP tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; iới t nh: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê X và bà Võ Thị P; Bị cáo có vợ và 03 con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo t i ngo i, có mặt t i phiên tòa.
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn VS, xã VH huyện TP tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền lợi cho bị hại Nguyễn Văn N: Ông Lê Phước A – Luật sư Văn phòng Luật sư Phan Tấn H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh KH (có mặt)
2. Ông Ph m Công T1, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố N thị trấn LH huyện TP tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Công H sinh năm 2003 (Vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Thành T2 sinh năm 1980 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn VS, xã VH huyện TP tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo bản án sơ thẩm:
Xuất phát từ việc tranh chấp lối đi trên đất của Lê Hoài T nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/5/2020 t i khu vực rẫy thuộc xóm 1C, thôn VS, xã VH, huyện Tuy Phong xảy ra việc Lê Hoài T và Ph m Công T1 cải vã, chửi bới lẫn nhau. Trong lúc cải nhau, T lấy 01 cây gỗ tròn dài khoảng 1,2m (lo i gỗ b ch đàn) đánh nhiều cái trúng vào tay, vai của T1 gây thương t ch. T1 bỏ ch y về rẫy của mình rồi gọi điện tho i cho Nguyễn Văn N (là chú của T1) nói bị T dùng cây đánh nghe vậy N điều khiển xe máy ch y đến rẫy của T cải nhau với T rồi tiếp t c đi đến rẫy của T1. Thấy T1 bị đánh tay phải sưng to nên N tức giận đi vào trong chòi rẫy lấy 01 cây rựa cầm trên tay trái rồi điều khiển xe ch T1 đi đến rẫy của T để tìm T hỏi chuyện. Thấy N cầm rựa nên T đi bộ lên chốt kiểm lâm gần đó N dừng xe cầm rựa rượt đuổi theo T đến chốt kiểm lâm thì được Nguyễn Thành T2 (nhân viên Ban quản lý rừng phòng hộ LS – ĐB) can ngăn. Lúc này, T trốn phía sau chốt kiểm lâm, T lấy điện tho i gọi cho một người tên Tí (không rõ nhân thân, lai lịch) thị trấn Liên Hương nhờ đến đánh N để dằn mặt, N điều khiển xe ch T1 đi về chòi rẫy của N, sau đó T1 đi bộ về chòi rẫy của T1. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày 08/5/2020, T nhận được điện tho i của người tên T thì đi bộ về hướng rẫy của N thì thấy người tên Tí cùng một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đi 01 xe ô tô màu trắng đến người tên Tí cầm theo 01 cây dao (lo i mã tấu), còn người thanh niên không rõ lai lịch nhặt 01 c c đá cầm trên tay. T nói với Tí “thằng ngồi bên đường đó anh đánh nó dằn mặt cho em” T đồng ý và cùng với người thanh niên không rõ lai lịch đi đến chỗ N và cầm mã tấu rượt đuổi N, N bỏ ch y lòng vòng trong rẫy đến khi ch y đến đối diện với T thì bị T dùng chân phải đ p trúng hông làm N té ngã xuống đất. T nhào vào đứng phía bên phải của N, cầm mã tấu giơ lên chém 01 nhát trúng vào đầu gối bên phải của N người thanh niên không rõ lai lịch đứng đối diện N cầm c c đá đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống trúng đầu của N, T cũng đứng đối diện với N cầm dép tổ ong đánh N 02 cái. Sau khi đánh xong khi N còn đang nằm dưới đất thì Tí và người thanh niên không rõ lai lịch và T lên xe ô tô bỏ đi. N được người nhà đưa đến Tr m y tế xã Vĩnh Hảo, Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận sơ cứu rồi chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Ch Minh điều trị vết thương.
Sau khi bị đánh, Ph m Công T1 đi đến Khoa ngo i tổng hợp – Trung tâm y tế huyện Tuy Phong khám, ch p X-quang xác định có vết thương – chấn thương vai (P)/bị đánh. Theo giấy chứng nhận thương t ch số 27/CN ngày 26/5/2020 của Trung tâm y tế huyện Tuy Phong xác định tình tr ng thương t ch của Ph m Công T1 lúc vào viện: 01 vết thương đã lành sẹo 3cm x 2cm vùng vai (P); 01 vết thương bầm tím 5cm x 2cm mặt ngoài cánh tay (P); 01 vết bầm tím 3cm x 1cm mặt trong 1/3 dưới cẳng tay phải.
T i Bản kết luận giám định pháp y về thương t ch số 125/2020/TgT ngày 15/03/2021 của Trung tâm pháp y – S Y tế Bình Thuận kết luận:
- Vết thương phần mềm vùng đỉnh vai phải đã được điều trị, hiện để l i sẹo lành k ch thước 2,5 x 1,5cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
- Sưng nề bầm tím mặt ngoài cánh tay phải 1/3 dưới mặt trong cẳng tay phải đã được điều trị hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ s xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên hiện t i là: 2%.
- Vết thương do vật tày gây ra.
- Vết thương có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới.
Theo Giấy chứng nhận thương t ch số 518/Cn-BVCR ngày 28/5/2020 của Bệnh viện Chợ Rẫy xác định Nguyễn Văn N vào viện ngày 09/5/2020, ra viện ngày 12/5/2020, tình tr ng thương t ch lúc vào viện:
* Lâm sàng:
+ Bệnh nhân tỉnh tim đều, phổi không ran, b ng mềm.
+ Vết thương vùng thái dương trái khoảng 01cm x 02cm (đã khâu).
+ Vết thương vùng môi trên khoảng 02cm (đã khâu).
+ Chân phải: vết thương vùng gối khoảng 02cm x 06cm, bờ vết thương nham nh , lộ gân bánh chè bị đứt gọn, mất vận động duỗi gối, m ch mu chân rõ, các ngón chân hồng ấm, vận động cảm giác các ngón được.
* Cận lâm sàng:
+ CT sọ não: không thấy tổn thương nội sọ.
+ X-quang mặt, xương đùi khớp gối xương cẳng chân phải: Không thấy gãy xương hàm dưới; không thấy gãy xương đùi gối, cẳng chân.
T i Bản kết luận giám định pháp y về thương t ch số 269/2020/TgT ngày 13/7/2020 của Trung tâm pháp y – S Y tế Bình Thuận kết luận:
- Vết thương gối phải đứt gân bánh chè, nứt s n lồi cầu xương đùi phải, tổn thương khớp gối phải đã được phẫu thuật, hiện gối phải h n chế cử động gập – duỗi cẳng chân phải, cổ bàn chân phải h n chế cử động, các ngón bàn chân phải h n chế cử động gấp – duỗi ngón để l i sẹo vết thương k ch thước: 14 x 0,1cm; sẹo vết mổ k ch thước 11,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% + 11% + 2% + 2%.
- Vết thương phần mềm vùng thái dương trái đã được điều trị, hiện để l i sẹo k ch thước 3,5 x 0,3 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
- Vết thương phần mềm niêm m c môi trên phải đã được điều trị, hiện để l i sẹo k ch thước 0,7 x 0,1 cm. tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên hiện t i là 25%.
- Vết thương gối phải do vật sắc gây ra; Vết thương vùng thái dương trái do vật tày có c nh gây ra; Vết thương niêm m c môi trên phải do vật tày gây ra.
- Vết thương vùng thái dương trái có chiều hướng tác động từ trái sang phải; Vết thương niêm m c môi trên phải có chiều hướng tác động từ trước ra sau; Vết thương gối phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài T ph m tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào: Điểm c đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoài T 12 (mười hai) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần bồi thường dân sự án phí, quyền kháng cáo quyền và nghĩa v thi hành án theo luật định.
Ngày 31 tháng 5 năm 2021, bị h i Nguyễn Văn N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng mức hình ph t đối với bị cáo Lê Hoài T; Ngày 08 tháng 6 năm 2021 bị cáo Lê Hoài T kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Đề nghị áp d ng điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của bị cáo Lê Hoài T.
Đề nghị áp d ng điểm b khoản 1 Điều 355 điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị h i Nguyễn Văn N sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong về phần hình ph t; Áp d ng các điểm c đ khoản 2 Điều 134 điểm b s khoản 1 Điều 51 khoản 1 Điều 38 khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Lê Hoài T ph m tội “Cố ý gây thương tích”; Tăng hình ph t đối với bị cáo từ 6 tháng đến 9 tháng tù xử ph t bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t vì quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải đã nhận ra lỗi lầm của mình sau khi sự việc xảy ra; gia đình bị cáo có 03 con nhỏ bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho bị h i theo quyết định của bản án sơ thẩm.
- Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị h i Nguyễn Văn N có ý kiến: Kiểm sát viên đã đánh giá được t nh nguy hiểm của hành vi ph m tội của bị cáo nên đề nghị tăng mức hình ph t từ 6 tháng đến 9 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên Kiểm sát viên cho rằng bị cáo thành khẩn khai báo và đề nghị áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không đúng vì bị cáo không thành khẩn khai báo đồng ph m gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố t ng xử lý giải quyết v án. Cơ quan điều tra ra quyết định tách v án để điều tra là vi ph m thủ t c tố t ng bỏ lọt tội ph m nên đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố t ng hình sự hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra l i.
- Bị h i Nguyễn Văn N thống nhất ý kiến của Luật sư nếu không hủy bản án sơ thẩm thì đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị h i tăng mức hình ph t đối với bị cáo vì bị cáo gây thương t ch cho nhiều người đồng thời xúi gi c người khác gây thương t ch và không khai ra đồng ph m gây khó khăn cho việc điều tra v án.
- Bị h i Ph m Công T1 có ý kiến đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ t c tố t ng: T i phiên tòa hôm nay, vắng mặt người làm chứng ông Nguyễn Công H, Hội đồng xét xử nhận thấy ông H đã có lời khai đầy đủ t i hồ sơ và việc vắng không gây tr ng i cho việc xét xử nên tiến hành xét xử v án vắng mặt ông H theo quy định điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố t ng hình sự như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và những người tham gia tố t ng có mặt t i phiên tòa là phù hợp.
[2] Về nội dung, t i phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hoài T khai nhận hành vi ph m tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s để kết luận:
[2.1] Xuất phát từ việc tranh chấp lối đi nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/5/2020, t i khu vực rẫy thuộc xóm 1C thôn Vĩnh Sơn xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong, giữa bị cáo Lê Hoài T và Ph m Công T1 cải vã, chửi bới nhau, bị cáo T đã dùng 01 cây gỗ tròn, dài khoảng 1 2m đánh vào vùng vai phải, tay phải của T1 gây thương t ch 2% (Theo Kết luận giám định pháp y về thương t ch số 125/2020/TgT ngày 15/03/2021 của Trung tâm pháp y - S Y tế Bình Thuận). Khi nghe T1 gọi điện tho i thông báo bị T đánh Nguyễn Văn N cầm rựa đuổi chém bị cáo T nhưng được can ngăn nên không chém được.
[2.2] Sau đó bị cáo T đã gọi điện tho i cho người tên T và 01 người khác chưa rõ nhân thân lai lịch (theo lời khai của bị cáo) đến dùng dao chém vào vùng gối phải dùng đá đánh vào vùng thái dương trái mặt của Nguyễn Văn N gây thương t ch 25% (Theo Kết luận giám định pháp y về thương t ch số 269/2020/TgT ngày 13/7/2020 của Trung tâm pháp y – S Y tế Bình Thuận).
[2.3] Hành vi của bị cáo và đồng ph m như trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo ph m tội “Cố ý gây thương tích” với hai tình tiết định khung tăng nặng theo quy định t i các điểm c đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của bị cáo và kháng cáo đề nghị tăng mức hình ph t đối với bị cáo của bị h i Nguyễn Văn N Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Quá trình điều tra xét xử sơ thẩm và t i phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo vẫn không khai các đồng ph m là đối tượng tên T và người đi cùng đối tượng T là ai. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo không những không khai đối tượng T và người đi cùng mà còn chủ động xóa số điện tho i đối tượng T trong danh b và lịch sử cuộc gọi trong điện tho i của bị cáo. Điều này đã gây khó khăn cho quá trình điều tra giải quyết v án Cơ quan điều tra đã phải ra Quyết định tách v án để tiếp t c điều tra Tòa án cấp sơ thẩm có nhận định về việc này nhưng cho rằng bị cáo đã khai báo tương đối thành khẩn và áp d ng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo cho bị cáo theo quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đúng quy định.
[3.2] Từ việc áp d ng tình tiết giảm nhẹ không đúng như trên dẫn đến Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định t i điểm b s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp d ng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử ph t bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình ph t được quy định t i khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là không đúng quy định.
[3.3] Ngoài ra bị cáo ph m tội thuộc trường hợp có hai tình tiết tăng nặng định khung theo quy định t i các điểm c đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự thương t ch bị cáo và đồng ph m gây ra cho một trong hai bị h i mức nghiêm trọng 25% và ch nh bị cáo là người đ p ngã bị h i N khi bị h i N bị Tí rượt đuổi để t o điều kiện cho đối tượng T chém gây thương t ch cho bị h i N. Do đó trường hợp này nếu bị cáo có được áp d ng hai tình tiết giảm nhẹ quy định t i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cũng không thể xử bị cáo dưới khung hình ph t 02 năm tù theo quy định t i khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[3.4] Vì vậy kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình ph t là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị h i sửa bản án sơ thẩm không áp d ng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” theo quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không áp d ng Điều 54 Bộ luật hình sự tăng mức hình ph t đối với bị cáo như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.
[3.5] Tuy nhiên xét thấy sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ 117.000.000đồng còn phải bồi thường cho các bị h i theo quyết định của bản án sơ thẩm; Ngoài ra bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự hoàn cảnh gia đình khó khăn do con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử cân nhắc áp d ng mức hình ph t đối với bị cáo cho phù hợp.
[4] Đối với số tiền 117.000.000đồng bị cáo đã nộp t i Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong nêu trên sẽ được tiếp t c t m giữ để đảm bảo thi hành án.
[5] Đối với quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị h i đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra l i do Cơ quan điều tra tách v án không đúng quy định bỏ lọt tội ph m. Vấn đề này Hội đồng xét xử nhận thấy: Do quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch nhân thân của các đồng ph m nên Cơ quan điều tra ra Quyết định tách v án để tiếp t c điều tra xử lý đối với các đồng ph m khác là có căn cứ đúng quy định t i khoản 2 Điều 170 Bộ luật Tố t ng hình sự. Trường hợp này không phả là bỏ lọt tội ph m theo quan điểm của Luật sư. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị hủy án sơ thẩm của Luật sư.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định t i điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.
[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội;
1. Không nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoài T về việc xin giảm nhẹ hình ph t; Chấp nhận kháng cáo của bị h i Nguyễn Văn N về việc đề nghị tăng mức hình ph t đối với bị cáo Lê Hoài T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
Áp dụng: Các điểm c đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài T ph m tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoài T 02 (hai) năm tù, thời h n tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Tiếp t c t m giữ 117.000.000đồng (Một trăm mười bảy triệu đồng) do bị cáo nộp theo biên lai thu số 0001522 ngày 30/12/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong để đảm bảo thi hành án.
3. Về án ph phúc thẩm: Buộc bị cáo Lê Hoài T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, THA huyện T.Phong; - S Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố t ng; - PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ Tổ HCTP, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguy n H ng Thái |