vanban.org

Bản án 13/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lường Quốc U, sửa Bản án số: 141/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lường Quốc U 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là một (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 19/01/2022. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lường Quốc U, sửa Bản án số: 141/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HS-PT
Ngày 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài.

Ông Trương Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 238/2021/TLPT-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Lường Quốc U do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lường Quốc U sinh năm 1986 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: ấp 5, xã T, huyện G, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Thanh H và bà Lê Thị Sơn; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 22/02/2021 đến ngày 02/3/2021 được cho tại ngoại cho đến nay; có mặt.

Ngoài ra, vụ án còn có bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 20/02/2021, Lường Quốc U đón xe ôm Grap đi từ nhà tại ấp 5, khu phố T, huyện G, tỉnh Bình Dương đến tiệm Internet Vip 39 tại khu phố T, phường Tân H, thị xã T, tỉnh Bình Dương để chơi game. Khi đến nơi, U đi vào trong tiệm Internet Vip 39 và ngồi ở máy tính số 23 để chơi game. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, ông Đỗ Dương K điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển số 72E1-199.63 đến tiệm Internet Vip 39 để chơi. Khi đến, ông K để xe tại nhà xe của tiệm Internet rồi vào chơi game, quá trình chơi game ông K ngồi ở máy tính số 24 của tiệm và có nói chuyện với U. Đến khoảng 05 giờ ngày 21/02/2021, ông K ngồi và ngủ tại máy tính số 24, khi ngủ ông K làm rơi chìa khóa xe xuống nền gạch nên U nhìn thấy. Lúc này, U nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của ông K để sử dụng. Thực hiện ý định, U quan sát xung quanh rồi cúi xuống dùng tay nhặt chìa khóa xe của ông K lên, thanh toán tiền rồi đi về. Khi về, U đi ra nhà xe của tiệm sử dụng chìa khóa xe mở khóa xe biển số 72E1-199.63 khởi động máy rồi điều khiển xe đến tiệm cầm đồ Trường Giang Phát tại khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương cầm giấy chứng minh nhân dân của U lấy 200.000 đồng. Sau đó, U điều khiển xe 72E1-199.63 đi mua thức ăn và đi đến tiệm Internet Thiên Lý tại phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương tiếp tục vào chơi game tại đây.

Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, ông K thức dậy phát hiện xe bị mất nên đi tìm thì phát hiện xe của mình đang dựng ở tiệm Internet Thiên Lý nên trình báo cho Công an phường T. Công an phường T tiếp nhận tin báo và mời Lường Quốc U về trụ sở làm việc, quá trình làm việc U khai nhận hành vi chiếm đoạt xe biển số 72E1-199.63 của ông K.

Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KLTS-TTHS ngày 23/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 72E1-199.63 trị giá 8.900.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021, Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo Lường Quốc U 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/02/2021 đến ngày 02/3/2021.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 30 tháng 10 năm 2021, bị cáo U có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Đơn kháng cáo của bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như cấp sơ thẩm đã xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, tại phiên tòa bị cáo chỉ xin hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm cho xã hội nên đủ điều kiện hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thánh là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng.

Bị cáo nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hợp lệ nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Do đó có đủ cơ sở xác định: ngày 21/02/2021, tại tiệm Internet Vip 39 thuộc khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương, Lường Quốc U đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu Sirius biển số 72E1-199.63 của ông Đỗ Dương K xe trị giá 8.900.000 đồng. Hành vi đó của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả.

Xét kháng cáo của bị cáo: tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi giao trả cho bị hại, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm cho xã hội nên đủ điều kiện hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc chấp nhận kháng cáo đối với bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lường Quốc U, sửa Bản án số: 141/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương về biện pháp chấp hành hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Lường Quốc U 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là một (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 19/01/2022.

Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ