- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Thanh Hương và Lê Văn NHơn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị TTTH được ly hôn anh LVN.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNHQUẢNG TRỊ Bản án số: 13/2022/HNGĐ-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 22/8/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Vũ Ngọc Châu;
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
Ông Nguyễn Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022, về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị TTTH, sinh năm 1988; nơi ĐKNKTT: thôn Hải An, xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị;
Hiện trú tại: thôn Trường Thọ, xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Bị đơn: anh LVN, sinh năm 1980; trú tại: thôn Hải An, xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2022, biên bản hòa giải và tại phiên tòa chị TTTH trình bày: chị H và anh LVN kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với bố mẹ chồng tại thôn Hải An, xã Hải Thái. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, hay cải vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh N thường gây sự, đánh đập chị H. Hơn nữa, anh N không chịu khó làm ăn phụ giúp công việc với vợ mà còn thường xuyên cờ bạc. Do đó, từ ngày 17/11/2021, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Về tình cảm: chị TTTH xin được ly hôn anh LVN.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Văn Thuần, sinh ngày 04/12/2010 và cháu Lê Thị Thanh Trà, sinh ngày 14/02/2017. Nếu ly hôn chị H có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trà vì hiện cháu Trà đang ở với chị H; giao cháu Thuần cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 09/5/2022, biên bản hòa giải anh LVN trình bày: Anh N và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào ngày 15/3/2010. Trong quá trình chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì mâu thuẩn xảy ra, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Tuy nhiên, anh N thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên mong muốn được đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình, cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Văn Thuần, sinh ngày 04/12/2010 và cháu Lê Thị Thanh Trà, sinh ngày 14/02/2017. Nếu ly hôn anh N có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh trình bày ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các bước đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vi phạm quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị TTTH và anh LVN là hợp pháp. Mâu thuẩn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận cho chị H được ly hôn anh N.
Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thanh Trà, sinh ngày 14/02/2017 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Lê Văn Thuần, sinh ngày 04/12/2010 cho anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: chị TTTH phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị TTTH khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh LVN; trú tại: thôn Hải An, xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Nếu ly hôn chị H có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thị Thanh Trà; giao cháu Lê Văn Thuần cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con nên Toà án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn: anh LVN đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị TTTH và anh LVN là hợp pháp, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào ngày 15/3/2010. Sau khi kết hôn hai vợ chồng cùng sống với bố mẹ chồng tại thôn Hải An, xã Hải Thái, huyện Gio Linh. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc sau đó phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hòa hợp; anh N thường gây sự, đánh đập chị H. Hơn nữa, anh N không chịu khó làm ăn phụ giúp công việc với vợ mà còn thường xuyên cờ bạc. Do đó, từ ngày 17/11/2021 chị H đã đưa con cháu Lê Thị Thanh Trà về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay.
Biên bản xác minh ngày 08/7/2022, tại Trưởng thôn và Chi hội phụ nữ thôn Hải An, xã Hải Thái cho biết: mâu thuẩn vợ chồng giữa chị H, anh N đã xãy ra từ lâu không thể hàn gắn được, từ khoảng tháng 11/2021 chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị H xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Lê Văn N có nguyện vọng xin được đoàn tụ vợ chồng nhưng anh N không có các biện pháp, hành động để chủ động hàn gắn mẫu thuẩn vợ chồng. Không tham gia phiên hoà giải ngày 07/7/2022 cũng như vắng mặt phiên toà hôm nay.
HĐXX thấy rằng: Tình cảm vợ chồng của chị TTTH và anh LVN đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2021 cho đến nay; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh LVN.
Về con chung: Quá trình sống chung vợ chồng chị H, anh N có 02 con chung là cháu Lê Văn Thuần, sinh ngày 04/12/2010 và cháu Lê Thị Thanh Trà, sinh ngày 14/02/2017. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ.
Theo Biên bản ghi lời khai ngày 10/6/2022 của anh LVN và Đơn xin xác nhận ngày 19/7/2022 của chị TTTH, thì anh N chị H đều có công việc ổn định; anh N làm nghề khai thác mủ Cao su của gia đình thu nhập từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ/tháng; chị H đi cạo mũ Cao su thuê có thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/tháng, được Ủy ban nhân dân xã Hải Thái xác nhận. Như vây, chị H, anh N đều có đủ điều kiện để nuôi con.
Cháu Lê Văn Thuần đã trên 7 tuổi, tại bản trình bày ý kiến ngày 09/5/2022, cháu Thuần có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ phải ly hôn. Cháu Trà dưới 7 tuổi là con gái nên cần có sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Hiện tại, cháu Lê Văn Thuần đang sống với bố, cháu Lê Thị Thanh Trà đang sống với mẹ. Để đảm bảo phát triển về mọi mặt tâm sinh lý của các cháu cũng như không làm thay đổi môi trường sống các con hiện tại, cần chấp nhận yêu cầu của chị H. Giao cháu Lê Thị Thanh Trà, sinh ngày 14/02/2017 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Lê Văn Thuần, sinh ngày 04/12/2010 cho anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: chị TTTH phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 71, 72, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chị TTTH được ly hôn anh LVN.
2. Về cong chung: Giao cháu Lê Văn Thuần, sinh ngày 04/12/2010 cho anh LVN trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Giao cháu Lê Thị Thanh Trà, sinh ngày 14/02/2017 cho chị TTTH trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở quyền này.
3. Về án phí: chị TTTH phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000131 ngày 06/5/2022 của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (chị H đã nộp đủ án phí).
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Gio Linh; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - UBND xã Hải Thái (nơi ĐKKH); - Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Ngọc Châu |