vanban.org

Bản án 13/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Đ và anh Nguyễn Đồng H.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Đồng H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Hải Đ, sinh ngày 15/7/2014. Chị Lê Thị Bích Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh châp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Đ và anh Nguyễn Đồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 29/3/2022
Vv: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Hoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Điều

2. Ông Đặng Hoàng Phòng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.

Trong ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021 về vụ: “ Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 2 năm 2022;

* Nguyên đơn: chị Lê Thị Bích Đ, sinh năm 1990; có mặt

* Bị đơn: anh Nguyễn Đồng H, sinh năm 1974; có đơn xin xét xử vắng

mặt.

Địa chỉ: khu phố A, phường Hòa V, thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Bích Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Bích Đ và anh Nguyễn Đồng H tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 10/10/2013 tại UBND thị trấn (nay phường) Hòa V, huyện (nay thị xã) Đông H, tỉnh Phú Yên. Chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do lối sống không phù hợp, không cùng quan điểm sống, giữa vợ chồng bất hòa, thường xuyên xảy ra cãi vã; chị Đ và anh H xa nhau từ tháng 10/2020 đến nay không ai quan tâm đến ai. Chị Đ nhận thấy không còn tình cảm gì với anh H và không thể tiếp tục chung sống, nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để ổn định cuộc sống của hai bên.

Anh Nguyễn Đồng H trình bày: Đúng là anh H và chị Đ kết hôn giống như lời trình bày của chị Đ, do không hợp tính, không cùng quan điểm sống nên thường cãi vã nhau, nay chị Đ xin ly hôn anh H thống nhất ly hôn.

- Về con chung: Hai anh chị thống nhất khai có 01 con chung tên Nguyễn Lê Hải Đ, sinh ngày 15/7/2014. Hiện con đang sống với anh H, do anh H nuôi dưỡng. Anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Chị Đ thống nhất theo yêu cầu của anh H.

-Tài sản chung: Hai anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Đồng H hiện đang làm ăn tại tỉnh Khánh Hòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án nhân dân thị xã Đông Hòa không tiến hành hoà giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Nguyễn Đồng H có đơn xin xét xử vắng mặt; do đó căn cứ các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về quan hệ hôn nhân: chị Đ và anh H tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn (nay phường) Hòa V, huyện (nay thị xã) Đông H, tỉnh Phú Yên vào năm 2013, đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, chị Đ và anh H xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Đ và anh H không hợp nhau, không cùng quan điểm sống nên xảy ra cãi vã. Dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng mâu thuẫn của chị Đ và anh H vẫn xảy ra và kéo dài, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Đ, thì anh H hiện đang sống và làm việc tại tỉnh Khánh Hòa, không đến Tòa án theo thông báo. Nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, chị Đ xin được ly hôn anh H và anh H có bản khai chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đ; ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Bích Đ và anh Nguyễn Đồng H, để các bên ổn định cuộc sống.

. Về con chung: xét thấy con chung do anh H trực tiếp nuôi dưỡng, đã quen sống cùng anh H. Chị Đ cũng thống nhất giao con cho anh H nuôi dưỡng và theo nguyện vọng của con. Do đó, để có điều kiện cháu Đ được phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, nên giao con cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh H là công nhân, có thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi con và anh H không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con, nên không buộc chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung: Nguyên đơn chị Đ và bị đơn anh H không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa không xem xét.

. Về án phí: chị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 24 và 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị Đ và anh Nguyễn Đồng H.

Về con chung:

Giao cho anh Nguyễn Đồng H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Hải Đ, sinh ngày 15/7/2014. Chị Lê Thị Bích Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lê Thị Bích Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về án phí: chị Lê Thị Bích Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001661 ngày 08/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ