vanban.org

Bản án 13/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thùy D.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2014, quyển số 01/2014, đăng ký ngày 01/04/2014 do Ủy ban nhân dân xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Dương Thùy D và ông … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thùy D - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thùy D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05/01/2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ôn Kim Chi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Văn Tuyền.

2/ Bà Nguyễn Thị Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/11/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 232/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thùy D, sinh năm: 1989 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: B13/382 ấp 2, xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: C1/26 ấp 3, xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 18 tháng 02 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thùy D trình bày như sau:

Bà D và ông Nguyễn Văn H tự nguyện quen biết nhau, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do cuộc sống chung không hòa hợp, lạnh nhạt với nhau, từ đó vợ chồng chung sống với nhau không còn hạnh phúc nữa. Nay bà Dương Thùy D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Có 02 (Hai) con chung:

1. Nguyễn Dương Thiên H1, sinh ngày: 18/10/2014 (Giới tính: Nam).

2. Nguyễn Dương Nhã H1, sinh ngày: 07/04/2016 (Giới tính: Nữ).

Hiện tại 02 cháu đang sống với bà D. Sau khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Dương Thùy D tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Dương Thùy D tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bà Dương Thùy D vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà D.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tống đạt tại nơi cư trú của ông H số C1/26 ấp 3, xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh gồm các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án, Ggiấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thùy D. Về án phí: Bà Dương Thùy D chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là bà Dương Thùy D nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Về Thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh của Công an xã Đa Phước: “Ông Nguyễn Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ C1/26 ấp 3, xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay ông H không có mặt tại địa phương và bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 15/02/2021 và không rõ địa chỉ nơi đến. Ngoài ra không có thông tin nào khác đối với ông Nguyễn Văn H”. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thùy D vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà D. Bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa xét xử đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quy định là vẫn tiến hành xét xử.

Về các yêu cầu của các đương sự:

Nguyên đơn bà Dương Thùy D yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn H. Về con chung: Bà D yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng các trẻ Nguyễn Dương Thiên H1 và Nguyễn Dương Nhã H1. Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà D tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt không đến Tòa án, không nộp văn bản cũng như đến Tòa án trình bày ý kiến để bảo vệ quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên được coi là từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Dương Thùy D đối với ông Nguyễn Văn H. Bà Dương Thùy D chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 26/2014, quyển số 01/2014, đăng ký ngày 01/04/2014 của Ủy ban nhân dân xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, hôn nhân giữa bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy tình nghĩa vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Hai bên đã không thực hiện đúng quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để đời sống chung không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt với nhau, sống ly thân với nhau, để một trong hai bên có yêu cầu ly hôn. Bị đơn không lên Tòa án bảo vệ quan điểm yêu cầu đoàn tụ của mình và có biện pháp khắc phục, hàn gắn tình cảm vợ chồng, đem lại hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Nguyên đơn xác nhận có 02 (Hai) con chung như sau:

+ Nguyễn Dương Thiên H1, sinh ngày: 18/10/2014 (Giới tính: Nam).

+ Nguyễn Dương Nhã H1, sinh ngày: 07/04/2016 (Giới tính: Nữ).

Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đào và ông Trừ Minh Tuấn: “Bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H có mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H có 02 con chung là Nguyễn Dương Thiên Hoàng và Nguyễn Dương Nhã H1. Hai người con hiện nay đang sống chung với bà Dương Thùy D tại B13/382 ấp 2, xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh.”. Tại biên bản ghi nhận ý kiến trẻ Nguyễn Dương Thiên H1 có nêu nguyện vọng của trẻ được sống cùng mẹ và em gái, vì hiện tại trẻ đang sống với mẹ, việc học hành cũng tiện cho trẻ. Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 trẻ Nguyễn Dương Thiên H1 và Nguyễn Dương Nhã H1 là phù hợp tình hình trẻ đang sinh sống.

Về tài sản chung: Bà Dương Thùy D tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Dương Thùy D tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bà Dương Thùy D chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 93, 94, 95, 97, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 19, 56, 57 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thùy D.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2014, quyển số 01/2014, đăng ký ngày 01/04/2014 do Ủy ban nhân dân xã Đa P, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2- Về con chung: Có 02 (Hai) con chung:

+ Nguyễn Dương Thiên H1, sinh ngày: 18/10/2014 (Giới tính: Nam).

+ Nguyễn Dương Nhã H1, sinh ngày: 07/04/2016 (Giới tính: Nữ).

Bà Dương Thùy D được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Dương Thiên H1 và Nguyễn Dương Nhã H1.

Ông Nguyễn Văn H có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3- Về tài sản chung: Bà Dương Thùy D tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4- Về nợ chung: Bà Dương Thùy D tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

5- Về án phí: Bà Dương Thùy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0081030 ngày 02/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6- Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Bà Dương Thùy D và ông Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nơi nhận:

Cỡ chữ