- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trịnh Thị T đối với bị đơn Nguyễn Mạnh T về “Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2022/ HNGĐ-ST Ngày 03/8/2022 V/v: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hải Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Xuân Chính.
2. Ông Sùng Seo Chử.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Giàng Mạnh Vàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. (Có đơn xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh T.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. (Có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2022 và bản tự khai ngày 23/06/2022 nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Mạnh T vào năm 2018 đã giải quyết ly hôn và nuôi con. Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 53/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Quyết định Chị T và anh T thuận tình ly hôn Giao cháu Nguyễn Trịnh Hà L sinh ngày 10/12/2010 cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục còn giao cháu Nguyễn Trịnh H sinh ngày 07/07/2012 cho anh T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào. Từ khi ly hôn đến nay cả hai cháu L và Anh đều ở với chị. Anh T thỉnh thoảng mới về thăm con hiện nay anh T đi làm ăn bận rộn và chưa có nhà riêng, để đảm bảo cuộc sống của hai cháu hiện tại các cháu đã lớn chị không muốn hai cháu phải ở xa nhau. Nªn chÞ ®Ò nghÞ Toµ ¸n giải quyết cho chÞ được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn chị sẽ trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trịnh H đến tuổi trưởng thành và yêu cầu anh T cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Trịnh H 2.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu Anh đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Tại bản tự khai ngày 01 tháng 7 năm 2022 bị đơn là anh Nguyễn Mạnh T trình bày: Anh và chị Trịnh Thị T vào năm 2018 đã giải quyết ly hôn và nuôi con. Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 53/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Quyết định Chị T và anh T thuận tình ly hôn Giao cháu Nguyễn Trịnh Hà L sinh ngày 10/12/2010 cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục còn giao cháu Nguyễn Trịnh H sinh ngày 07/07/2012 cho anh T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào. Đến nay chị Trịnh Thị T làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn anh T không nhất trí. Nếu chị T không nuôi được hai cháu thì anh sẽ trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu không yêu cầu chị T phải đóng góp tiền nuôi con chung.
Tại các biên bản hòa giải ngày 11/7/2022 và ngày 19/7/2022 chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Mạnh T đã không thỏa thuận được với nhau về thay đổi nuôi con nuôi con sau ly hôn và đều có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Trịnh H đến tuổi trưởng thành. Chị T yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con cho cháu Anh là 2.000.000 đồng/tháng còn anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho cháu Anh. Trước khi mở phiên Tòa chị Trịnh Thị T có đơn đề nghị xin rút phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Nguyễn Trịnh Hà Anh.
Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện viện kiểm sát có ý kiến như sau:
+,Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về công tác xây dựng hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của phiên tòa sơ thẩm, không vi phạm thủ tục tố tụng. Chị T và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 1 điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết.
+, Về hướng giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án.Tại đơn xin xác nhận của chị T của Ủy ban nhân dân thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai xác nhận kể từ khi có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 22/10/2018 cháu Nguyễn Trịnh H đến nay cháu đang sống với mẹ là chị Trịnh Thị T tại tổ dân phố P, thị trấn Mường Khương huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Cháu Nguyễn Trịnh H đang học tại trường tiểu học số 1 thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Tại văn bản ghi ý kiến của cháu Nguyễn Trịnh H có nguyện Vọng ở với chị Trịnh Thị T vì vậy chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giao cháu Nguyễn Trịnh H sinh ngày 07/07/2012 cho chị Trịnh Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành nên áp dụng khoản 2,3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Tòa án quyết định nuôi con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và Điều 58, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử chị T có đơn đề nghị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đình chỉ phần yêu cầu trên nên áp dụng Điều 217 của Bộ luật tố tụng đân sự để giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 tuyên về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành giao Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn Anh Nguyễn Mạnh T theo quy định tại điều 196 của Bộ luật tố tụng dân sự, và Tòa án đã tiến hành hòa giải về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn để giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và đã đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Chị T và anh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 1 điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết.
.Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trịnh Thị T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” được quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn, bị đơn đều có nơi cư trú tại địa phương do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung vụ án: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định: Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 53/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Quyết định Chị T và anh T thuận tình ly hôn Giao cháu Nguyễn Trịnh Hà L sinh ngày 10/12/2010 cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục còn giao cháu Nguyễn Trịnh H sinh ngày 07/07/2012 cho anh T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào. Nay chị Trịnh Thị T có đơn yêu cầu “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải hai lần nhưng các đương sự không thỏa thuận được về thay đổi nuôi con sau ly hôn và đều có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Trịnh H đến tuổi trưởng thành. Chị T yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con cho cháu Anh là 2.000.000 đồng/tháng còn anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho cháu Anh. Trước khi mở phiên Tòa chị Trịnh Thị T có đơn đề nghị xin rút phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Nguyễn Trịnh Hà Anh.
. Xét về điều kiện của nguyên đơn: Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án.Tại đơn xin xác nhận của chị T của Ủy ban nhân dân thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai xác nhận kể từ khi có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 22/10/2018 cháu Nguyễn Trịnh H đến nay cháu đang sống với mẹ là chị Trịnh Thị T tại tổ dân phố P, thị trấn Mường Khương huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Cháu Nguyễn Trịnh H đang học tại trường tiểu học số 1 thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Tại văn bản ghi ý kiến của cháu Nguyễn Trịnh H có nguyện Vọng ở với chị Trịnh Thị T. Như vậy chị T có nơi ở ổn định, có nơi đăng ký thường trú rõ ràng bên cạnh đó chị T chứng minh thu nhập ổn định 10.000.000 đồng/tháng. Từ tháng 10/2018 đến nay cháu Anh đã được chị T chăm sóc và cho đi học tại thị trấn Mường Khương anh T cũng không có ý kiến gì, vì vậy chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giao cháu Nguyễn Trịnh H sinh ngày 07/07/2012 cho chị Trịnh Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị T nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử sau đố làm đơn đề nghị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cấp cấp dưỡng nuôi con nên căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết là phù hợp. Đối với yêu cầu thay đổi nuôi con sau ly hôn cần căn cứ khoản 2,3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Tòa án quyết định nuôi con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và Điều 58, Khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83, khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
. Xét về điều kiện của bị đơn: Khi ly hôn anh T được Tòa án nhân dân huyện Mường Khương giao cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trịnh H đến tuổi trưởng thành nhưng anh T không nuôi cháu Anh mà đã để cho chị Trịnh Thị T nuôi từ tháng 10/2018 cho đến nay.Vì vậy nên giao cháu Nguyễn Trịnh H cho chị T chăm nom, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp
. Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điều khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 217; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trịnh Thị T đối với bị đơn Nguyễn Mạnh T về “Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn”.
Căn cứ vào Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; khoản 1, 2 Điều 83; Khoản 3 Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trịnh Thị T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi co sau khi ly hôn.
Về con: Giao cháu Nguyễn Trịnh H sinh ngày 07/07/2012 cho chị Trịnh Thị T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) , anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho cháu Nguyễn Trịnh Hà Anh. Anh Nguyễn Mạnh T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.Chị Trịnh Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí Ký hiệu AC - 21P số: 0006537 ngày 23/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Mạnh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh+ huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND thị trấn Mường Khương; - Các đương sự; - Lưu tập án - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Hải Quân |