- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận là vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “không công nhận là vợ chồng” của nguyên đơn bà Lê Thị T. Không công nhận quan hệ bà Lê Thị T với ông Nguyễn Thanh T1 là quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TINH NINH THUẬN Bản án số: 13/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 4 - 2022 V/v tranh chấp “Không công nhận là vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Huyền Trang;
Ông Phạm Ngọc Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 335/2021/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 về việc “không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11/3/2022 vfa theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2022/QĐST-HPT, ngày 28/3/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1967 (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà với ông Nguyễn Thanh T1 tự nguyện tìm hiểu, về chung sống với nhau vào năm 1989, nhưng không đến Ủy ban nhân dân xã để làm thủ tục đăng ký kết hôn, do ông, bà không am hiểu pháp luật nên không đi làm thủ tục đăng ký kết hôn.
Qúa trình chung sống giữa bà với ông Nguyễn Thanh T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T1 hay nghi ngờ bà về tiền bạc không biết cách chi tiêu để không làm giàu như người ta, rồi ghen tuông bà vô cớ, nên ông T1 mỗi khi say rượu về là dùng những lời nói không tế nhị xúc phạm bà và gia đình bà, rồi đánh đập bà, bà cố gắng chịu đựng để vun vén hạnh phúc trong gia đình, nhưng ông T1 không chịu sửa đổi vẫn tính nào tật đó, mới đây nhất vào ngày 21-11-2021 ông T1 đánh đập bà và mang dao đến hâm đòi giết con gái bà, nên bà có đến giật dao và mang đi cất giấu. Hiện tại bà và ông T1 đã sống ly thân không quan tâm đến nhau từ 08-5-2021 cho đến nay.
Nay bà thấy không còn tình cảm với ông Nguyễn Thanh T1, nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà với ông Nguyễn Thanh T1 là vợ chồng.
Về con chung: Bà với ông Nguyễn Thanh T1 sống với nhau có 04 con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1990, Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1992, Nguyễn Thanh P, sinh năm 1994 và Nguyên Thị Thanh M, sinh năm 1997, hiện các con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 vắng mặt không có lý do, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng:
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 4 Điều 147, Điều 246, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T, không công nhận bà Lê Thị T với ông Nguyễn Thanh T1 là vợ chồng; Về con chung đã trưởng thành nên không xem xét đến; Về tài sản chung tự thỏa thuận, nên không xem xét đến. Buộc bà Lê Thị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp không công nhận là vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N.
. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Thanh T1 vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông Nguyễn Thanh T1.
. Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Thanh T1 sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1989. Mặc dù, theo quy định của pháp luật ông bà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng thực tế từ trước đến nay ông bà không đăng ký kết hôn. Như vậy, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Thanh T1 chưa tuân thủ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau: "Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này". Đối chiếu với những quy định nêu trên, việc bà Lê Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng với ông Nguyễn Thanh T1 là có căn cứ chấp nhận.
. Về con chung: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Thanh T1 sống với nhau có 04 con chung, nhưng đã trưởng thành, bà Lê Thị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
. Về tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ.
. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 246, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “không công nhận là vợ chồng” của nguyên đơn bà Lê Thị T. Không công nhận quan hệ bà Lê Thị T với ông Nguyễn Thanh T1 là quan hệ vợ chồng.
2. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án bà Lê Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002105, ngày 07-12-2021 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - UBND xã P, N; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Bình |