- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Ba Hong yeu cau ba Hien tra 10.000.000 d tien hui da dong thay."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi với bà Võ Thị H1.
- Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/DS-ST Ngày: 19-5-2022 V/v: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hải
Ông Dương Thanh Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-DS ngày 13/5/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp T, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng Hưng, tỉnh Long An. Có mặt.
Bị đơn: Bà Võ Thị H1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp T, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Bà Võ Thị H1 có tham gia dây hụi vụ do bà H làm đầu thảo, hụi 5.000.000 đồng khui ngày 25/02/2019 đến 03/8/2024 mãn, có 12 phần. Bà H1 tham gia 01 phần và đã hốt hụi lần thứ hai vào vụ hè thu năm 2019. Bà H đã giao tiền cho bà H1 đầy đủ. Sau khi hốt hụi, bà H1 có đóng hụi chết được 03 lần vào vụ đông xuân 2020, hè thu 2020 và đông xuân 2021 thì không đóng nữa. Vụ hè thu năm 2021 bà Võ Thị T hốt hụi, vụ đông xuân 2022 bà Nguyễn Thị D hốt hụi, bà H đã giao đủ tiền hụi cho bà T và bà D và phải choàng hụi cho bà H1 02 lần là 10.000.000 đồng nên nay khởi kiện yêu cầu bà H1 trả lại cho bà 10.000.000 đồng hụi chết đã đóng thay.
Ngoài ra, bà H còn trình bày: Trước đây, bà đã khởi kiện bà H1 nhưng hai bên đã tự thỏa thuận tại Biên bản thỏa thuận ngày 19/5/2021, theo đó bà H có trách nhiệm trả cho bà H1 1.000.000 đồng vào ngày 20/5/2021 (là tiền cấn trừ hụi) và bà đã trả xong; còn bà H1 có trách nhiệm đóng hụi chết cho bà H khi đến hạn (cụ thể dây hụi 5.000.000 đồng, một năm khui 02 vụ, hè thu và đông xuân, bắt đầu khui lần thứ nhất vào ngày 02/01/2019 âm lịch tương ứng dương lịch là ngày 25/02/2019, dây hụi gồm 12 phần, bà H1 tham gia 01 phần là 07 lần x 5.000.000 đồng/lần. Thời gian trả là tương ứng với từng lần mở hụi đông xuân và hè thu), đồng thời hai bên cũng xác định ngoài khoảng tiền nợ nêu trên thì hai bên không còn nợ nhau số tiền nào khác. Do đã thỏa thuận xong nên bà H đã rút đơn khởi kiện và được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 22/2021/QĐST-DS ngày 19/5/2021. Tuy nhiên sau đó bà H1 không thực hiện đúng cam kết trong biên bản thỏa thuận nên bà H khởi kiện trong vụ án này để yêu cầu bà H1 trả lại cho bà 02 lần hụi chết đã đóng thay.
Bị đơn bà Võ Thị H1 vắng mặt không thể hiện ý kiến trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và không tham dự phiên Tòa.
Bà Văn Thị T và bà Nguyễn Thị D là thành viên tham gia dây hụi trên xác nhận đã nhận tiền hụi vụ hè thu năm 2021 (bà T hốt hụi) và vụ đông xuân năm 2022 (bà D hốt hụi) do bà H giao. Xác nhận dây hụi trên vẫn còn hoạt động bình thường và dây hụi này bà Võ Thị H1 có tham gia 01 phần và đã hốt hụi lần thứ hai vào ngày 17/5/2019.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về “Hợp đồng góp hụi” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp T, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn bà Võ Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.
Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét về thời hiệu đối với vụ kiện này.
Về nội dung vụ án:
Bà Võ Thị H1 đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng cố tình không đến Tòa án để thể hiện ý kiến hoặc tham gia hòa giải, tham dự phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng: Bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị H1 trả lại cho bà 10.000.000 đồng là tiền hụi chết bà H đã đóng thay cho bà H1 của dây hụi vụ 5.000.000 đồng khui ngày 02/02/2019 âm lịch (là ngày 25/02/2019 dương lịch) bà H làm đầu thảo và bà H1 tham gia 01 phần, bà H1 đã hốt hụi lần thứ hai vào vụ hè thu năm 2019, sau đó chỉ đóng lại 03 lần hụi chết là vụ đông xuân 2020, hè thu 2020 và đông xuân 2021 thì không đóng tiếp đối với vụ hè thu năm 2021 và đông xuân 2022. Về tài liệu chứng cứ bà H cung cấp thể hiện được việc bà H1 có ký tên xác nhận đã nhận tiền hụi của lần mở hụi thứ hai với số tiền 33.000.000 đồng vụ hè thu 2019; Biên bản thỏa thuận ngày 19/5/2021 bà H1 cam kết có trách nhiệm đóng hụi chết cho bà H 07 lần hụi chết tính đến khi hụi xuống chót của dây hụi vụ khui ngày 02/01/2019 âm lịch (là ngày 25/02/2019 dương lịch); Xác nhận của bà Văn Thị T và bà Nguyễn Thị D là những người tham gia dây hụi vụ nêu trên đã hốt hụi và đã được bà H giao tiền đầy đủ vụ hè thu năm 2021 và đông xuân 2022. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tiền lãi phát sinh kể từ ngày bà H đóng hụi thay cho bà H1 đến ngày xét xử sơ thẩm: Do bà H không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn; Nguyên đơn được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi với bà Võ Thị H1.
Buộc bà Võ Thị H1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H 10.000.000 (mười triệu) đồng.
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
3.1. Buộc bà Võ Thị H1 phải chịu 500.000 (năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
3.2. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0003654 ngày 28/3/2022.
Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND,VKSND tỉnh Long An; - VKSND, Chi cục THADS H.Vĩnh Hưng; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | Huỳnh Thị Yến Linh |