- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? 1/ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Võ Minh H về yêu cầu công nhận diện t ch đất mộ 48m2.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 157 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/DS-ST Ngày: 22- 6 - 2022 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Ch T m.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Phước Đa;
2. Ông Trần Ngọc Đằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn M n– Thư ký Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2020/TLST- DS ngày 24 tháng 7 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Võ Minh H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: ấp An Hòa N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ngư i đại diện h p pháp: Võ Thị T, sinh năm 1957.
Địa chỉ: khóm X, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1977.
Ngư i đại diện h p pháp: Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1948.
Địa chỉ: ấp An Hòa N, xã T, huyện C, Đồng Tháp.
- Ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:
1. Lương Thị H, sinh năm 1936;
Địa chỉ: ấp An Hòa N, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ngư i đại diện h p pháp: Võ Thị Tuyết, sinh năm 1957.
Địa chỉ: khóm X, thị trấn T, huyện Tinh Biên, tỉnh An Giang.
2. Võ Thị H, sinh năm 1979;
3. Thái Văn S, sinh năm 1978;
Ngư i đại diện h p pháp của anh S: Chị Võ Thị H.
Cùng địa chỉ:, ấp An Hòa N, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Ủy ban nh n d n huyện CT.
Địa chỉ: QL80, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện CT, tỉnh Đồng Tháp.
5. Ông Võ Văn S (Hoàng Th), sinh năm 1936;
Địa chỉ:, đư ng Bùi Hữu Ng, Phư ng X, quận B, thành phố Hồ Ch Minh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn anh Võ Minh H Ngư i đại diện h p pháp bà Võ Thị T trình bày:
Nguồn gốc phần đất của anh H là do cụ Võ Thị Th tặng cho theo h p đồng tặng cho ngày 11/12/2002.
Cụ Võ Thị Th là cô thứ ba của anh H; cụ Th không có chồng, con. Sinh th i cụ Th có tạo lập đư c diện t ch đất 2.747m2 và đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995.
Đến năm 2002 thì cụ Th tặng cho anh H đất để cất nhà ở chiều ngang 07m, dài 12m cập kênh thủy l i, khi tặng cho thì có đo đạc. Đồng th i năm 2002, thì cụ Th có làm t di chúc có 02 ngư i chứng kiến là Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thành L trong t di chúc thì ghi cho anh H là 84m2 lo hưởng hương khói, chăm lo phần mộ của gia tộc, diện t ch còn lại và nhà cho ông S.
Ngày 22/01/2003 anh H đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 657, t bản đồ số 1a, diện t ch 84m2.
Năm 2005, anh H d i về nền nhà đang ở, nguyên nh n là do cụ Th kêu về để ở; đồng th i giữ gìn mồ mã ông, bà ph a sau nhà. Anh H đồng ý về ở trên nền nhà hiện tại.
Đến năm 2013 thì anh H đi làm ở Đồng Nai, phần nhà thì do chị H ở kế bên coi và quản lý sử dụng.
Ngoài diện t ch cho anh H thì cụ Th tặng cho ông Võ Minh S (ông S là em ruột của cụ Th. Ông S đư c cấp giấy năm nào và chuyển như ng đất cho anh Nguyễn Ngọc H thì anh H không biết. Anh H yêu cầu đư c di d i về thửa 657, t bản đồ số 01a, do anh H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất thì c y trồng trên đất anh H tự di d i. Anh H không đồng ý trả lại giá trị c y trồng trên phần đất.
Nay anh H yêu cầu:
- Anh H yêu cầu anh Nguyễn Ngọc H đổi giao lại diện t ch 84m2, thuộc thửa 657, t bản đồ số 01a, do anh H đứng tên giấy chứng nhận QSD (theo đo đạc thực tế là 92m2 theo các mốc M1, M2, M3, M4 của sơ đồ của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai). Anh H không yêu cầu anh H phải san lấp mặt bằng như nền nhà cũ của anh H trước đ y; hỗ tr chi ph để anh H di d i nhà về thửa đất số 657.
- Anh H rút lại yêu cầu anh Nguyễn Ngọc H trả lại diện t ch đất mộ 43,2m2 (diện t ch đo đạc thực tế là 48m2 theo các mốc M9, M10, M11, M12, M13 theo sơ đồ đo đạc) theo t di chúc của cụ Võ Thị Th và bản giao ước giữa ông Võ Văn S (tức là ông Hoàng Th) và anh Nguyễn Ngọc H thỏa thuận ngày 28/12/2015.
- Yêu cầu anh Nguyễn Ngọc H phải giao phần đất là lối đi từ nhà anh H ra đến khu đất mồ mả ông bà của anh H là 1,3m dài đến khu mộ (theo như bản giao ước ngày 28/12/2015 giữa anh H và ông Võ Văn S (tức là ông Hoàng Th). Có diện t ch đo đạt thực tế là 15m2 theo các mốc M5, M6, M13, M12, M14, M15).
- Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H Ngư i đại diện h p pháp ng Nguyễn Ngọc A trình bày:
Nguồn gốc đất là của cụ Võ Thị Th cho ông Võ Văn S thì theo t di chúc và đư c cấp giấy chứng nhận vào năm 2015 diện t ch 2.640m2, thuộc thửa số 47, t bản đồ số 02.
Ngày 30/12/2015, anh H nhận chuyển như ng toàn bộ thửa đất thuộc thửa số 47, t bản đồ số 02, diện t ch 2.640m2 của ông Võ Văn S. Khi nhận chuyển như ng thì có đo đạc thực tế đất, có những ngư i l n cận ký giáp ranh; bên anh Võ Minh H cũng có ký giáp ranh (do chị Võ Thị H ký thay). Đến ngày 04/3/2016 thì anh H đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế 2.375m2 diện t ch này thiếu so với diện t ch trong giấy nhưng anh H vẫn đồng ý.
Khi chuyển như ng thì anh H chuyển như ng luôn khu mộ, nhưng có thỏa thuận để lại diện t ch đất khu mộ và có thỏa thuận chừa đư ng đi nhưng chỉ cho ông Võ Văn S đi; còn anh H thì từ nhà là ra khu mộ nên không cần đư ng đi.
Trư ng h p Ủy ban nh n d n cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H tại vị tr đất anh H sử dụng thì anh H yêu cầu thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Võ Minh H năm 2003 thửa đất số 657, t bản đồ số 01a, diện t ch 84m2, để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nơi anh H đang sử dụng có diện t ch đo dạc thực tế là 105m2 theo các mốc M6, M7, M8, M9, M13, M6 theo sơ đồ đo đạc) nhưng chỉ giao diện t ch là 84m2 theo giấy chứng nhận.
Phần đất khu mộ 43,2m2 (diện t ch đo đạc thực tế là 48m2 theo các mốc M9, M10, M11, M12, M13 theo sơ đồ đo đạc) chưa đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh H đã rút lại yêu cầu này thì anh H không có ý kiến và đồng ý để ngư i có quyền sử dụng tự đi kê khai.
- Nay theo yêu cầu khởi kiện của anh H thì anh H không đồng ý giao lại diện t ch 84m2 thuộc thửa đất số 657, t bản đồ số 01a, (diện t ch đo đạc thực tế là 92m2 theo các mốc M1, M2, M3, M4 theo sơ đồ đo đạc) cho anh H vì phần đất này đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H thuộc một phần thửa số 74, t bản đồ số 02.
Anh H không đồng ý giao trả phần đất là lối đi từ nhà anh H ra đến khu đất mồ mả ông bà của anh H là 1,3m dài đến khu mộ (diện t ch đo đạt thực tế là 15m2 theo các mốc M5, M6, M13, M12, M14, M15 của sơ đồ đo đạc).
Trư ng h p anh H đư c di d i về phần đất thuộc thửa số đất số 657, t bản đồ số 01a, diện t ch 84m2 (diện t ch đo đạc thực tế là 92m2 theo các mốc M1, M2, M3, M4 của sơ đồ đo đạc ) thì anh H yêu cầu trả lại giá trị c y trồng trên phần đất theo giá Hội đồng định giá đã định.
- Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị H trình bày:
Chị H ở trên phần đất là do chị H hỏi anh Võ Minh H ở nh từ năm 2005 cho đến nay. Hiện nay chị H đã có nền nhà trong khu d n cư xã T n ình nên gia đình đã di d i về đ y sinh sống. Do nhà anh H hiện tại thì chỉ có một mình bà Lương Thị H ở và bà H đã lớn tuổi, nên anh Thái Văn S (chồng chị H), chị H vẫn thư ng xuyên tới lui, sinh sống trong căn nhà.
Chị H thừa nhận chữ ký, chữ viết trong bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/01/2016 là của chị H, khi ký tên thì chị H không có đọc lại bản mô tả và cũng không ai đọc cho chị H nghe. Khi chị H ký tên chỉ nghe nói là ký ranh đất khu mộ nên chị H mới đồng ý ký tên.
Do đất và nhà là của anh H nên chị H, cũng là đại diện theo ủy quyền của anh Thái Văn S không yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này.
- Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị H và ngư i đại diện h p pháp bà Võ Thị T trình bày:
à H không có yêu cầu gì trong vụ án này, do bà H chỉ ở nh trên phần đất và nhà của anh Võ Minh H.
- Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện ChT có văn bản cung cấp th ng tin:
Qua tra cứu hồ sơ lưu trữ, việc hoán đổi vị tr đất giữa ông Võ Văn S với anh Võ Minh H, các bên không có lập h p đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất mà cơ quan chức năng thực hiện đo đạc xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng, đư c các bên sử dụng đất ký tên xác nhận (theo biên bản ngày 08/10/2013).
Ngày 30/01/2015, Ủy ban nh n d n huyện ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Văn S, thửa số 47, t bản đồ số 02, diện t ch 2.640m2 mà chưa thực hiện thu hồi giấy chứng nhận QSD đất thửa số 657, t bản đồ số 1a, diện t ch 84m2, loại đất ONT do Ủy ban nh n d n huyện CT ký cấp ngày 22/01/2003 cho hộ ông Võ Văn S ngày 30/01/2015 có trùng vào vị tr của thửa số 657, t bản đồ số 1a, diện t ch 84m2 đã cấp cho hộ anh Võ Minh Hi.
Ủy ban nh n d n huyện sẽ xem xét Quyết định thu hồi hoặc thu hồi điều chỉnh giấy chứng nhận QSD đất của anh Võ Minh H khi có bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành.
Phần đất mồ mã thể hiện các mốc 9, 10, 11, 12, 13 diện t ch 48m2 và phần đất anh Hiền đang ở sử dụng, diện t ch 105m2 thể hiện các mốc 6, 7, 8, 9, 13 theo tr ch đo hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 10/7/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện CTh; phần đất này hiện nay UBND huyện chưa cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ai.
Đồng th i đề nghị vắng mặt tất cả phiên làm việc, phiên hòa giải, phiên xét xử.
- Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan ng Võ Văn S trình bày ý kiến:
Nguồn gốc phần đất thửa số 47, t bản đồ số 02, diện t ch 2.640m2 của ông Võ Văn S là do ông nhận tặng cho từ cụ Võ Thị Th. Cụ Th là chị ông S, cô thứ ba của anh Võ Minh H; cụ Th không có chồng, con. Sinh th i cụ Th có tạo lập đư c diện t ch đất 2.747m2 và đư c cấp giấy chứng nhận đất năm 1995. Đến năm 2002 thì cụ Th tặng cho anh Võ Minh H chiều ngang 07m, dài 12m cập kênh thủy l i. Anh H đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/01/2003, thửa số 657, t bản đồ số 1a, diện t ch 84m2. Tuy nhiên, sau đó cụ Th là không muốn cho anh H gần mương thủy l i mà d i lên trên kế bên nhà cụ Th và để trông giữ khu mộ ông bà nên cho anh H ở nền nhà hiện tại cho đến nay.
Sau khi cụ Th mất thì năm 2015, ông S chuyển như ng cho anh H khi đó có đo đạc thực tế và có chừa ra phần đất anh H đã x y dựng nhà. Do đó việc anh H đòi lại phần đất ông đã chuyển như ng cho anh H là không đúng. Đồng th i đề nghị xét xử vắng mặt .
Đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc tu n theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của ngư i tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước th i điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đình chỉ một phần yêu cầu lối đi 48m2 trong phạm vi các mốc M9, M10, M11, M12, M13. Công nhận quyền sử dụng đất cho anh H diện t ch thực tế M6, M7, M8, M9, M13. Giữ nguyên hiện trạng về lối đi đư ng đá, cập nhà anh H đến khu mộ diện t ch 22m2 phạm vi các mốc A, B, M7, M8. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 657, t bản đồ 1a, diện t ch 84m2 cấp cho anh H ngày 22/01/2003.
Ngoài ra các đương sự đều khẳng định không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm; không yêu cầu Hội đồng xét xử thu thập thêm chứng cứ gì khác.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã đư c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Ngọc H phải chuyển đổi lại vị tr đất và có yêu cầu hủy giấy chứng nhận nên Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền đư c quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.
Về thành phần những ngư i tham gia tố tụng không có đương sự khiếu nại hay yêu cầu bổ sung vấn đề gì. Đối với Ủy ban nh n d n huyện CTh, ông Võ Văn S vắng mặt lần 2 và có đơn đề nghị xét xử vắng măt nên tiếp tục giải quyết vụ án.
Về nguồn gốc đất anh Võ Minh H với anh Nguyễn Ngọc H tranh chấp, các đương sự thống nhất là của cụ Võ Thị Th.
Cụ Th là cô thứ ba của anh Võ Minh H, là chị của ông Võ Văn S ; cụ Th không có tạo lập gia đình riêng, khi còn sống cụ Th có tạo lập đư c diện t ch đất 2.747m2 và đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995.
Đến năm 2002 thì bà Th tặng cho anh Võ Minh H chiều ngang 07m, chiều dài 12m; vị tr đất cập kênh thủy l i. Ngày 22/01/2003 anh H đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện t ch 84m2, thửa số 657, t bản đồ số 1a .
Năm 2005, anh H d i về vị tr nền nhà đang sử dụng ở. Nguyên nh n do cụ Th kêu về nền nhà hiện tại để ở để giữ gìn mồ mã ông, bà ph a sau. Anh H tự nguyện về ở trên nền nhà về cho đến nay.
Phần đất còn lại của cụ Th tặng cho cho ông Võ Văn S thì chỉ dựa vào t di chúc và khai đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2015 diện t ch 2.640m2, thuộc thửa số 47, t bản đồ số 02.
Khi cụ Th còn sống là do ông S chăm sóc, quản lý nhà và đất. Ngày 15/5/2013 cụ Th chết. Sau khi cụ Th mất vì đã lớn tuổi và điều kiện gia đình ông S phải về thành phố sinh sống nên kêu chuyển như ng lại đất.
Ngày 30/12/2015, anh H nhận chuyển như ng toàn bộ thửa đất thuộc thửa số 47, t bản đồ số 02, diện t ch 2.640m2 của ông Võ Văn S với giá 400.000.000 đồng. Khi nhận chuyển như ng thì có đo đạc thực tế phần đất, có những ngư i l n cận ký giáp ranh, bên anh Võ Minh H có ký giáp cũng có ký giáp ranh (do chị Võ Thị H ký thay). Đến ngày 04/3/2016 thì anh H đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện t ch 2.375m2 diện t ch này thiếu so với diện t ch giấy chứng nhận nhưng anh H vẫn đồng ý.
Khi chuyển như ng thì anh H có thỏa thuận để lại khu mộ; có chừa đư ng đi nhưng chỉ cho ông Võ Văn S đi còn anh H thì như hiện tại từ nhà là ra khu mộ nên không cần đư ng đi.
Đến năm 2013 thì ông Võ Minh H đi làm ở Đồng Nai l u l u mới về còn phần nhà thì do chị H, bà H ở và quản lý sử dụng.
Về phần diện t ch khu mộ ghi trong di chúc thì anh H rút lại yêu cầu tranh chấp vì hiện nay phần đất này chưa đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không yêu cầu giải quyết. Đồng th i, anh H không yêu cầu anh H phải san lấp mặt bằng như nền nhà cũ của anh H trước đ y; hỗ tr chi ph để anh H di d i nhà về thửa đất số 657, t bản đồ số 01a, diện t ch 84m2 (diện t ch đo đạc thực tế là 92m2 theo các mốc M1, M2, M3, M4 của sơ đồ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai).
Nay anh H chỉ kiện yêu cầu: anh H phải giao lại vị tr diện t ch 84m2 (ngang 7m x dài 12m) thuộc thửa 657, t bản đồ số 01a, theo giấy chứng nhận do anh H đứng tên quyền sử dụng đất. Yêu cầu anh H phải giao phần đất là lối đi từ nhà anh H ra đến khu đất mồ mả ông bà của anh H là 1,3m dài đến khu mộ (theo như bản giao ước ngày 28/12/2015 giữa ông Hoàng Th và anh Nguyễn Ngọc H) có diện t ch đo đạt thực tế là 15m2 theo các mốc M5, M6, M13, M12, M14, M15.
4 Xét yêu cầu khởi kiện của anh H: Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự đã thống nhất cụ Th có diện t ch 2.747m2 đư c cấp giấy CNQSDĐ năm 1995. Năm 2002, cụ Th tặng cho anh H đất cập kênh có diện t ch 84m2 (ngang 07m, dài 12m). Năm 2003 Ủy ban nh n d n huyện ChT cấp giấy CNQSDĐ cho anh H diện t ch 84m2 thửa số 657, t bản đồ số 1a, anh H cất nhà trên đất nhưng chỉ ở đến năm 2005 thì cụ Th kêu anh H d i nhà lên ph a trên, giáp nhà cụ Th là thửa 120, t bản đồ số 1a để ở và trông coi mồ mã ông, bà ph a sau nhà ông H hiện nay. Phần diện t ch còn lại bà Th tặng cho ông S đư c ghi trong h p đồng là 2.513m2; năm 2006 Ủy ban nh n d n huyện Ch Th cấp giấy CNQSDĐ cho ông S (cấp cả diện t ch nhà ông H đã ở cũng là trùng lên thửa 657 mà anh H đã đư c cấp giấy). Đến năm 2015 ông S chuyển như ng toàn bộ phần diện t ch đất này lại cho anh H, năm 2016 anh H đư c cấp giấy CNQSDĐ và đổi thành thửa số 74, t bản đồ số 02. Như vậy, Ủy ban nh n d n huyện ChTh đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông S không đúng diện t ch thực tế và không đúng đối tư ng.
Mặc dù ông S chuyển như ng cho anh H là hết thửa. Tuy nhiên, khi chuyển như ng ông S và anh H, cũng như l i trình bày của Nguyễn Ngọc A (cha của anh H) có thỏa thuận là “khi nhận chuyển như ng đất của ông S thì trên đất đã có nhà của anh H, để lại khu mộ và vẫn giữ đư ng đi ra vào như cũ cho nhà Nguyễn Minh H”; khi đo đạc giao đất cho anh H thì anh H không có mặt (anh H làm thuê ở Đồng Nai) nhưng có chừa lại nhà của anh H và anh H, ông S, ông A đã có trồng trụ đá, x y hàng rào bằng gạch, cột bê tông cốt thép để làm ranh với nhà anh H.
Anh H đã ở trên phần đất mà Ủy ban nh n d n huyện đã cấp giấy chứng nhận cụ Th cho ông S, nhưng phần đất này cụ Th đã cho ông H, anh H đã cất nhà trên đất ổn định từ năm 2005 cho đến nay và anh H ở trên phần diện t ch đất này trước khi ông S đư c bà Th tặng cho. Hơn nữa, vị tr nhà của anh H hiện nay cũng gắn liền với lối đi đến khu mộ của ông, bà anh H. Như vậy, nếu như giữ nguyên hiện trạng nhà, đất của anh H và lối đi như hiện nay là phù h p với nguyện vọng của cụ Th và cũng thuận l i hơn cho việc đi lại, trông coi mồ mã ông, bà của gia đình anh H, đúng theo nội dung thỏa thuận giữa ông S với anh H khi chuyển như ng đất. Do vậy không chấp nhận yêu cầu thay đổi lại vị tr đất cất nhà của anh H và vị tr lối đi ra mộ giáp nhà cụ Th.
Đối với diện t ch đất 105m2 giữ nguyên hiện trạng cho anh H đang sử dụng cất nhà từ các mốc M6, M7, M8, M9, M13 và diện t ch đất 48m2 đất mộ các mốc M9, M10, M11, M12, M13 theo Công văn số 255/U ND-NC ngày 04/2/2020 của Ủy ban nh n d n huyện Ch Th xác định đất tranh chấp này chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Ông S và anh H đã có trồng trụ đá xác định ranh đất chuyển như ng với phần đất không chuyển như ng (diện t ch đất nhà anh H, đất khu mộ) cụ thể. Do đó anh H (do ông A đại diện) không đồng ý đổi lại vị tr đất theo giấy chứng nhận cho anh H và chỉ đồng ý giao diện t ch đất tại vị tr đang sử dụng cất nhà đang ở theo giấy chứng nhận 84m2 vì đất ông S đã chuyển như ng hết đất cho anh H là không có cơ sở chấp nhận.
Về h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất anh H nhận chuyển như ng của ông Võ Văn S theo h p đồng chuyển như ng có ghi tên các thành viên trong hộ gồm v là bà Trần Kim C và các con Võ Hoàng Nh, Võ Văn Ngh, Võ Kim Tư ng V cùng ký tên nhưng các đương sự trong vụ án đều xác định đất cá nh n ông S sử dụng, cụ Th cho cá nh n ông S; các đương sự không có tranh chấp vì với gia đình ông S. Cũng như chị Nguyễn Thị Th (là v anh H) có văn bản trình bày tài sản tranh chấp không liên quan đến chị và từ chối tham gia tố tụng nên không xem xét giải quyết trong vụ án.
Do xét yêu cầu thay đổi lại vị tr đất ở và công nhận luôn đất lối đi vào mộ không đư c chấp nhận nên cũng không phải giải quyết các tài sản trên đất, vật kiến trúc gắn liền với đất của các đương sự.
Từ những ph n t ch nêu trên, Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, nên chấp nhận.
6 Xét về án ph , ch ph tố tụng d n sự sơ thẩm: Do anh H yêu cầu thay đổi lại vị tr đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đư c chấp nhận nên phải chịu án ph d n sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 37, 157, 158, 165, 166, 217, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015;
Các Điều 99, 100, 106 của Luật đất đai;
Điều 254, 457, 459 của Bộ luật D n sự năm 2015;
Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
1/ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Võ Minh H về yêu cầu công nhận diện t ch đất mộ 48m2.
2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi di d i vị tr đất của anh Võ Minh H đối với anh Nguyễn Ngọc H.
- Công nhận quyền sử dụng đất cho anh Võ Minh H tại vị tr đang sử dụng có diện t ch theo đo đạc thực tế là 105m2 từ các mốc M6, M7, M8, M9, M13.
- Giữ nguyên hiện trạng về lối đi chung từ nhà anh Võ Minh H đến khu mộ có diện t ch 22m2 từ các mốc M7, B, A, M8.
( Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện ChT và biên bản thẩm định tại chỗ)
3/ Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 657, t bản đồ số 1a, diện t ch 84m2 cấp cho anh Võ Minh H ngày 22/01/2003.
Các đương sự đư c quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, điều chỉnh lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
4/ Về án ph , chi ph d n sự sơ thẩm:
- Án ph d n sự sơ thẩm: anh Võ Minh H phải chịu án ph d n sự sơ thẩm là 300.000 đồng; khấu trừ số tiền tạm ứng án ph d n sự sơ thẩm 375.000 đồng đã nộp (do bà Võ Thị T nộp thay) theo biên lai số 0005714 ngày 27/12/2018 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện ChT. Anh H đư c nhận lại 75.000 đồng.
- Về chi ph thẩm định, định giá: Anh Võ Minh H phải chịu 600.000 đồng và 2.934.000 đồng tiền chi ph thẩm định, định giá (đã nộp và chi xong).
Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì ngư i đư c thi hành án d n sự, ngư i phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.
Các đương sự có mặt quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đư c hoặc niêm yết bản án h p lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp; - Chi cục THADS huyện ChT; - Tòa án nd cấp cao Tp.HCM - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh h T |