vanban.org

Bản án 13/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Kim L về việc yêu cầu chị Trần Thị Kiều T bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe số tiền tổng cộng 66.655.540 đồng (bằng chữ: Sáu mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm bốn chục đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trầ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Lâm Thị Kim L - Trần Thị Kiều T"
  • Tòa quyết gì? Điểm d Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2022/DS-ST
Ngày: 28 - 3 - 2022
V/v tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng về sức khỏe

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà.

Ông Lê Văn Danh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Cẩm Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2021/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2021, về việc: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2022/QĐST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Kim L, sinh năm 1987. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Anh Dương Phúc Ng, sinh năm 1991 (văn bản ủy quyền ngày 08-3-2021). (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bạc Liêu.

Địa chỉ liên lạc: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Kiều T, sinh năm 1990. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1987. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

2. Anh Trần Liên H (tên gọi khác: Boss), sinh năm 1987. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

3. Chị Trần Bích Th, sinh năm 1983. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã Q, huyện X, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 3 năm 2022 của nguyên đơn chị Lâm Thị Kim L, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, anh Dương Phúc Ng trình bày:

Vào khoảng 23 giờ, ngày 11-3-2020, tại bãi đậu xe nhà chị Trần Bích Th thuộc ấp H, xã Q, huyện X, tỉnh Sóc Trăng trong lúc nói chuyện về quan hệ tình cảm giữa anh Nguyễn Văn V (anh V là chồng chị L) và chị T thì giữa chị L và chị T phát sinh mâu thuẫn, nói chuyện lớn tiếng, chị L dùng tay phải đánh vào mặt chị T. Sau đó, chị T bỏ ra xe lấy vật gì giống cây dao đi về phía chị L. Chị L thấy vậy nên bỏ chạy theo hướng phía bên hông nhà sau của nhà chị Th, chị T chạy đuổi theo sau, chị L chạy được một đoạn khoảng 30m thì vấp té ngã gây thương tích ở cổ tay trái và gãy chân phải. Sau đó, chị L được đưa đi Bệnh viện khám, nằm viện điều trị từ ngày 12-3-2020 đến ngày 15-3-2020 xuất viện, tái khám định kỳ điều trị thương tích.

Sự việc đã được Cơ quan điều tra Công an huyện X, tỉnh Sóc Trăng giải quyết, không khởi tố vụ án hình sự do hành vi không cấu thành tội phạm.

Nay chị L khởi kiện yêu cầu chị T phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe số tiền tổng cộng 66.655.540 đồng, gồm:

- Tiền Viện phí và tiền thuốc là 39.805.540 đồng;

- Tiền Taxi đi khám lượt đi, về là 17.900.000 đồng;

- Tiền ngày công lao động, thu nhập bị mất của chị L và người nuôi bệnh trong thời gian nằm viện (03 ngày x 02 người x 250.000 đồng/ngày) là 1.500.000 đồng;

- Tiền tổn thất tinh thần bằng 05 tháng lương cơ sở (1.490.000 đồng x 05 tháng) là 7.450.000 đồng.

- Theo các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn chị Trần Thị Kiều T trình bày:

Chị T không có gây thương tích cho chị L nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị L. Tuy nhiên, chị T đồng ý hỗ trợ chị L số tiền 40.000.000 đồng, trả dần mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng.

- Theo các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng và tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng anh Nguyễn Văn V trình bày:

Vào khoảng 23 giờ, ngày 11-3-2020, tại bãi đậu xe nhà chị Th thuộc ấp H, xã Q, huyện X, tỉnh Sóc Trăng khi nói chuyện về việc anh V rủ chị T đi uống cà phê cho số tiền 5.000.000 đồng thì giữa chị L và chị T phát sinh mâu thuẫn, chị L dùng tay đánh vào mặt chị T 01 (một) cái, thì được anh V và chồng chị T can ngăn ra. Sau đó, chị T bỏ lên xe tải đang đậu gần đó, còn anh V, chị L đứng tại chỗ gần băng ghế đá. Chị T lên xe được khoảng 01 phút, xuống xe đi xấn xấn (đi nhanh) lại chổ chị L, anh V nhìn thấy hai tay chị T để vào trong túi xách, khi đến gần chỗ chị L, chị T rút một tay ra, anh V thấy ánh sáng trắng nên xác định đó là cây dao, nhưng không xác định được là loại dao gì. Lúc này chị L bỏ chạy, chị T chạy đuổi theo phía sau, chị L chạy được khoảng 30m thì té ngã xuống đất, chị T chạy vượt qua, sau đó quay lại thì được chồng và anh ruột ôm lại. Anh V đến đỡ chị L đứng dậy nhưng do chân đau chị L không đứng dậy được, anh V nhìn thấy trên tay trái của chị L chảy máu. Anh V chở chị L cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Sóc Trăng, sau đó chuyển đến Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh điều trị từ ngày 12-3-2020 đến ngày 15-3-2020 xuất viện.

- Theo các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng và tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng chị Trần Bích Th trình bày:

Vào khoảng hơn 22 giờ, ngày 11-3-2020, chị Th nằm võng trước sân, lúc này có chị T, chồng chị T và anh Boss (anh ruột của T) đậu xe ô tô tải tại bãi đậu xe thuộc ấp H, xã Q, huyện X, tỉnh Sóc Trăng chờ cân tôm thì vợ chồng của chị L đi xe mô tô đến. Sau đó, chị L và chị T xảy ra cự cãi, chị T đang ngồi trên ghế đá thì chị L dùng tay (tay phải) đánh vào mặt chị T 01 (một) cái, chị T đứng dậy ẩu đã, câu vật, cào cấu với chị L thì được can ngăn ra. Sau đó, chị T đi lại xe ô tô tải lấy vật gì bằng kim loại màu trắng sáng, giấu trong ví (vỏ xách), quay lại cự cãi với chị L, chị L bỏ chạy vô hướng nhà sau của chị Th, chị T rút vật bằng kim loại trong ví (vỏ xách) ra, rượt đuổi chị L đến gần tới hàng ba nhà sau chị L vấp té, sau đó chồng chị L, chồng chị T và anh Boss can ngăn ra.

- Theo các ghi lời tại Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, người làm chứng anh Trần Liên H trình bày:

Vụ việc chị L và chị T đánh nhau vào buổi tối (không nhớ chính xác thời gian) tại bãi đậu xe của chị Th thuộc ấp H, xã Q, huyện X, tỉnh Sóc Trăng thì anh H không chứng kiến. Lúc anh H nằm trên xe tải ngủ nghe tiếng ồn ào, anh H xuống xe thấy chị T đang rượt chị L, lúc này chị L tự té xuống, chị T chạy đến nhào qua người chị L, sau đó chồng chị L và chồng T ôm cản hai người ra.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị L yêu cầu chị T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 66.655.540 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T hỗ trợ cho chị L số tiền 40.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Lâm Thị Kim L khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Trần Thị Kiều T bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe. Bị đơn chị Trần Thị Kiều T có địa chỉ cư trú tại Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại Khoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng anh Trần Liên H vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyên, bị đơn chị T yêu cầu tiếp tục xét xử. Kiểm sát viên đề nghị tiếp tục xét xử theo định tại Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, anh H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, vắng mặt không có lý do, việc vắng mặt của anh H không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị L yêu cầu chị T bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe các khoản chi phí số tiền tổng cộng 66.655.540 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị L trình bày vào khoảng 23 giờ, ngày 11-3-2020, tại ấp H, xã Q, huyện X, tỉnh Sóc Trăng trong lúc nói chuyện về việc chồng chị L rủ chị T uống cà phê cho số tiền 5.000.000 đồng thì chị L và chị T phát sinh mâu thuẫn, chị L dùng tay phải đánh vào mặt chị T. Lúc này, chị T đi lại xe ô tô tải đậu gần đó lấy vật bằng kim loại rượt đuổi chị L chạy về hướng nhà sau của chị Th, khi chị L chạy đến gần hàng ba nhà sau thì té ngã gây thương tích ở tay trái, gãy gương đùi chân phải. Lời trình bày này của chị L phù hợp với lời khai của anh V là“…khi đến gần chỗ chị L thì chị T rút một tay ra, anh V thấy ánh sáng trắng nên xác định đó là cây dao, nhưng không xác định được là loại dao gì…”; phù hợp với lời khai của chị Th là “…chị T đi lại xe ô tô tải lấy vật gì bằng kim loại màu trắng sáng và giấu trong ví (vỏ xách), quay lại cự cãi với chị L, chị L bỏ chạy vô hướng nhà chị Th, chị T rút vật bằng kim loại trong ví (vỏ xách) ra, rượt đuổi chị L đến gần tới hàng ba nhà sau nhà chị Th thì chị L vấp té”. Tuy nhiên, theo lời khai của chị L, anh V, chị Th không xác định được chị T có cầm cây dao rượt đuổi chị L, chị T cũng không thừa nhận có cầm cây dao rượt đuổi chị L và trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện X không thu giữ được “vật bằng kim loại màu trắng sáng” như chị L, anh V, chị Th trình bày. Do đó, không có căn cứ để Hội đồng xét xử xác định chị T có cầm cây dao rượt đuổi chị L.

Chị T không thừa nhận có gây thương tích, không có dùng dao gây thương tích cho chị L. Thương tích của chị L là do trong lúc bỏ chạy chị L tự vấp té ngã gây nên. Chị T không có tác động, không xâm phạm trực tiếp vào người chị L. Lời trình bày này của chị T phù hợp với lời khai của anh V, anh H, chị Th là trong lúc nói chuyện qua lại giữa chị L và chị T phát sinh mâu thuẫn, chị L dùng tay phải đánh vào mặt chị T, hai bên câu vật, ẩu đã với nhau. Sau đó, chị T ruột đuổi đánh chị L, chị L bỏ chạy đến gần hàng ba nhà sau của chị Th thì tự vấp té gây thương tích, chị T không có hành vi tác động hoặc xâm phạm trực tiếp đến cơ thể gây thương tích cho chị L. Do đó, có căn cứ để Hội đồng xét xử định thương tích của chị L gồm thương tích ở cẳng tay trái và gãy xương đùi phải không phải do chị T gây ra mà do chị L tự vấp té ngã gây ra.

Tại Thông báo kết luận giám định số: 78/TB-ĐTTH ngày 06-01-2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng:

“Căn cứ Kết luận giám định số: 5933/C09B ngày 24/12/2020 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đối với mẫu dịch màu đỏ dính trong đất (mẫu số 01) và trên cây đu đủ (mẫu số 02) được thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường trong vụ “Cố ý gây thương tích” xảy ra tại ấp Thạnh Hưng, xã Thạnh Quới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 11/03/2020, có phải là máu người hay không và có phù hợp với ADN được thu từ mẫu móng tay, mẫu tóc của bà Lâm Thị Kim L và ông Trần Liên H là những người có liên quan trong vụ việc hay không.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên thông báo cho bà Trần Thị Kiều T, bà Lâm Thị Kim L và ông Trần Liên H là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về kết luận giám định trên như sau:

- Chất dịch màu đỏ dính trong đất (mẫu số 01) là máu người. Phân tích gen (ADN) từ dấu vết máu này được một kiểu gen nam không đầy đủ do chất lượng mẫu kém, không truy nguyên được các thể từ kết quả phân tích này.

- Chất dịch màu đỏ dính trên cây đu đủ (mẫu số 02) không phải là máu người.

- Phân tích và lưu các kiểu gen của Lâm Thị Kim L và Trần Liên H trong hồ sơ giám định của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh.”.

Tại Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số: 11/QĐ-ĐTTH ngày 27-4-2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, tỉnh Sóc Trăng: “Sau khi kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm thấy: Hành vi không cấu thành tội phạm ... không khởi tố vụ án hình sự đối với: tố giác có dấu hiệu tội phạm “cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 11/3/2020 tại ấp Thạnh Hưng, xã Thạnh Quới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng...”.

Tại Khoản 1 Khoản 2 Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”.

Đối chiếu với quy định viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy chị L có một phần lỗi vì có hành vi xâm phạm đến cơ thể của chị T trước, thương tích của chị L không phải do hành vi trái pháp luật của chị T gây ra mà do chị L tự vấp té ngã gây ra. Chị T không có hành vi xâm phạm hoặc tác động gây thương tích cho chị L nên không làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm. Do đó, chị L yêu cầu chị T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền tổng cộng 66.655.540 đồng là không có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T đồng ý hỗ trợ cho chị L số tiền 40.000.000 đồng, trả dần mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, sự hỗ trợ này do chị T tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Chị T yêu cầu được trả dần mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng, yêu cầu này của chị T sẽ được xem xét ở giai đoạn thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Như đã nhận định, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Chị L khởi kiện vụ án yêu cầu bồi thường về sức khỏe nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí sơ thẩm. Chi Tiên tự nguyện hỗ trợ cho chị L số tiền 40.000.000 đồng nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 229, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điểm d Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Kim L về việc yêu cầu chị Trần Thị Kiều T bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe số tiền tổng cộng 66.655.540 đồng (bằng chữ: Sáu mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm bốn chục đồng).

2. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Kiều T hỗ trợ cho chị Lâm Thị Kim L số tiền 40.000.000 đồng (bằng chữ: Bốn mươi triệu đồng).

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lâm Thị Kim L thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm. Chị Trần Thị Kiều T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ