- Tranh chấp gì? án dân sự — "Suong - dung -Téo"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang S là chủ hộ kinh doanh Tân Thành Công .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2022/DS-ST Ngày: 31/03/2022 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Dương Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Phượng
Ông Ngô Quốc Tiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Đằng – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2022/TLST-DS, ngày 04 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022QĐXXST-DS, ngày 25/02/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Quang S – Chủ hộ kinh doanh Tân Thành Công. Địa chỉ: ấp S xã T, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Dương Gia A.(Có mặt). Theo văn bản ủy quyền ngày 14/5/2021.
Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: 1. Ông Thái Văn D, sinh năm 1956.( Vắng mặt).
2. Bà Dương Thị T sinh năm 1955.( Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số 100 ấp P, xã T, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/12/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Dương Gia A trình bày:
Vào ngày 13/02/2019 giữa ông Thái Văn D, bà Dương Thị T và ông Trần Quang S là Hộ kinh doanh Tân Thành Công có thỏa thuận về việc mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản để ông D, bà T nuôi tôm. Ngày 01/02/2020 hai bên ký hợp đồng bằng văn bản. Theo thỏa thuận thì bên ông S bán cho ông D, bà T thức ăn tôm thẻ chân trắng, tôm sú nhãn hiệu Việt Hoa, thuốc và hóa chất cho nuôi trồng thủy sản. Quá trình nhận hàng thì hai bên sẽ ghi vào sổ của mỗi bên, khi ông D, bà T đặt hàng thì hàng hóa sẽ được nhân viên giao hàng chở tận nơi tại nhà ông D, bà T. Khi nhận đủ hàng thì phía ông D, bà T sẽ ký nhận vào sổ theo dõi giao nhận hàng. Thời gian thanh toán là cuối mổi vụ nuôi tôm, khi thu tôm ông D, bà T có nghĩa vụ phải thanh toán hết số tiền hàng cho ông Trần Quang S. Căn cứ vào thỏa thuận mua bán trên ông Trần Quang S đã cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng hàng hóa như hai bên thỏa thuận, sau khi nhận hàng ông D, bà T đều ký vào sổ theo dõi và không hề có ý kiến phản đối hay khiếu nại về số lượng và chất lượng, chủng loại hàng hóa mà ông Trần Quang S đã giao. Ông Thái Văn D, bà Dương Thị T không thực hiện theo đúng hợp đồng mà các bên đã ký. Nên ngày 16/4/2020 ông Trần Quang S đã chấm dứt hợp đồng với ông D, bà T. Đến ngày 25/4/2021 hai bên ký kết bản đối chiếu công nợ thì Thái Văn D, bà Dương Thị T còn nợ ông Trần Quang S số tiền là 37.412.000 đồng không yêu cầu tính lãi.
- Nay ông S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thái Văn D và
bà Dương Thị T phải thanh toán số tiền mua thức ăn nuôi tôm và các loại thuốc thủy sản cho ông với số tiền vốn là 37.412.000đ, không yêu cầu tính lãi.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/01/2022 bị đơn bà Dương Thị T
trình bày:
Trước đây vợ chồng bà T có mua thức ăn của ông S và hiện nay còn nợ ông S số tiền là 37.412.000đ nhưng do nuôi tôm thua lỗ nên không có khả năng thanh toán cho ông S được. Nay bà T xin trả dần mỗi vụ tôm 2.000.000đ cho đến khi dứt nợ.
- Taïi phieân toøa, Kieåm saùt vieân phaùt bieåu yù kieán về đường lối giải quyết vụ án là đề nghị HĐXX buộc các bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ là 37.412.000 đ. Đối với ý kiến về vieäc tuaân theo phaùp luaät toá tuïng trong quaù trình giaûi quyeát vuï aùn cuûa Thaåm phaùn, Hoäi ñoàng xeùt xöû vaø vieäc chaáp haønh phaùp luaät cuûa ngöôøi tham gia toá tuïng, keå töø khi thuï lyù vuï aùn cho ñeán tröôùc thôøi ñieåm Hoäi ñoàng xeùt xöû nghò aùn ñaõ tuaân theo ñuùng caùc quy ñònh cuûa Boä luaät toá tuïng daân söï năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về nội dung:
- Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ là 37.412.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền còn nợ là 37.412.000 đồng, phía bị đơn cũng đã thừa nhận hiện nay còn nguyên đơn số tiền trên nhưng do nuôi tôm lỗ nên không có khả năng thanh toán cho nguyên đơn và xin trả dần mỗi vụ tôm 2.000.000đ cho đến khi dứt nợ. Căn cứ vào Điều 92 quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử công nhận đây là sự thật.
HĐXX xét thấy bị đơn đã mua thức ăn nuôi tôm của nguyên đơn nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, như đã phân tích ở trên bị đơn đã vi phạm hợp đồng mua bán tài sản đối với nguyên đơn, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn vì vậy việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu là 37.412.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận. Đối với phần lãi suất do nguyên đơn không yêu cầu vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với yêu cầu của bị đơn là xin trả dần mỗi vụ tôm 2.000.000đ cho đến khi dứt nợ, HĐXX xét thấy yêu cầu này của bị đơn không phù hợp nên không chấp nhận.
Từ những phân tích ở trên HĐXX cần xử buộc ông Thái Văn D và bà Dương Thị T phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho Trần Quang S là chủ hộ kinh doanh Tân Thành Công số tiền còn nợ là 37.412.000 đồng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là đề nghị HĐXX buộc các bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền nợ là 37.412.000đ. Như đã phân tích ở trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận do đó các bị đơn phải liên đới chịu toàn bộ án phí là 1.870.600đ, nguyên đơn được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Điều 280, Điều 288, Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang S là chủ hộ kinh doanh Tân Thành Công .
1/. Xöû buoäc bò ñôn ông Thái Văn D và bà Dương Thị T phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho Trần Quang S là chủ hộ kinh doanh Tân Thành Công số tiền còn nợ là 37.412.000 đồng ( Ba mươi bảy triệu bốn trăm mười hai ngàn đồng).
- Keå töø khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông S có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông D và bà T còn phaûi trả lãi cho ông Trần Quang S theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2/ Aùn phí daân söï sơ thaåm:
- Nguyên đơn Trần Quang S không phải chịu án phí và được hoàn trả lại các số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 935.000đ theo biên lại thu số 0009833 ngày 04/01/2022 cuûa Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn ông D và bà T phải liên đới chịu án phí số tiền là 1.870.600đ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - Chi cục THADS huyện MX; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Dƣơng Hải |