- Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "tranh chấp tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất vô hiệu, hủy giấy chứng nhận"
- Tòa quyết gì? hông chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr;
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/DS-PT Ngày: 03/6/2022 V/v Y u cầu tuy n bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô h ệu, h y g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất» |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:
Th m ph n – Ch t a ph n t a: Ông Trần Tỷ.
C c Th m ph n: 1./ Ông Nguyễn Văn Pho
2./ Ông Vũ Văn Thuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà ê Th n – Th k T N t nh on Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum: Bà Tr ơng Th Thanh Thủy - iểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh on Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số: 45/2021/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2021 về “Y u cầu tuy n bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô h ệu, h y g ấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
o bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Kon Plông b kháng cáo và kháng ngh .
Theo Quy t đ nh đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2022/QĐ-PT ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân t nh on Tum giữa các đ ơng sự:
Nguyên đơn: Ông Tạ Ti n Tr, sinh năm 1966 và bà Trần Th im , sinh năm 1968
Cùng đ a ch : Thôn 2, th trấn Đ, huyện , t nh on Tum (có mặt)
Ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: nh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 (đ ợc ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 02 năm 2020)
Đ a ch : Số 52 B, ph ờng T, thành phố , t nh on Tum. (có mặt)
Ng ời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr: Ông Tạ Văn Ngh – uật s Văn phòng luật s S thuộc Đoàn luật s t nh (vắng mặt)
Đ a ch : Số 52 B, ph ờng T, thành phố , t nh on Tum.
Bị đơn: Ch Nguyễn Th ạ Th, sinh năm 1982
Đ a ch : hu dân c số 2, tổ dân phố , Ph ờng T, thành phố Q, t nh Quảng Ngãi
Ng ời đại diện theo ủy quyền của b đơn: Bà Trần Th Tr, sinh năm 1959 (đ ợc ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 21 tháng 4 năm 2020)
Đ a ch : Số 17 , ph ờng , thành phố , t nh on Tum (có mặt)
Ng ời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của b đơn: Ông ê Ngô Tr, Luật s Công ty uật TNHH T và Cộng sự thuộc Đoàn uật s Thành phố Hồ Chí Minh
Đ a ch : Số 29/20 đ ờng số 35, ph ờng H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Ngô Minh Ch, sinh năm 1958 và bà Trần Th Tr, sinh năm 1959
Cùng đ a ch : Số 17 , Ph ờng , thành phố , t nh on Tum (có mặt)
2/ nh Thái Đức T, sinh năm 1979
Đ a ch : hu dân c số 2, tổ dân phố , Ph ờng T, thành phố Q, t nh Quảng Ngãi
Ng ời đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Minh Ch, sinh năm 1958 (đ ợc ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 7 năm 2020)
Đ a ch : Số 17 , Ph ờng , thành phố , t nh on Tum.
3/ Ch Tạ Th Trầm V, sinh năm 1990; (có mặt)
4/ nh Tạ Thành T, sinh năm 1994; (vắng mặt)
Cùng đ a ch : Thôn 2, th trấn Đ, huyện , t nh on Tum.
5/ Ủy ban nhân dân th trấn M, huyện , t nh on Tum;
Ng ời đại diện theo pháp luật: Ông Châu Văn ; Chức vụ: Chủ t ch. (vắng mặt)
Người làm chứng:
1. Ông Bùi Thanh Ph
Đ a ch : Phòng tài nguyên và môi tr ờng huyện , t nh on Tum (vắng mặt).
2. Ông Vũ Đức Ng
Đ a ch : Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện , t nh on Tum (vắng mặt).
3. Ông Phan Ngọc H
Đ a ch : 33/3 , thành phố , t nh on Tum (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
4. Ông ê Ngọc H, sinh năm 1981
Đ a ch : Thôn 8, xã Đ, thành phố , t nh on Tum (vắng mặt)
5. Ông Nguyễn Văn M.
Đ a ch : Thôn 9, th trấn Đ, huyện , t nh on Tum. (vắng mặt)
6. Ông Đinh Văn H (có mặt)
7. Ông Nguyễn Ngọc X (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
8. Ông A T (có mặt)
9. Bà Y L, sinh năm 1970 (có mặt)
10.Ông A P, sinh năm 1958 (có mặt)
11.Anh A B, sinh năm 1981(có mặt)
12.Anh A D (vắng mặt)
13.Ông Phạm Quang V, sinh năm1969 (vắng mặt)
Cùng đ a ch : Thôn , th trấn M, huyện , t nh on Tum.
14. nh B, sinh năm 1979 và ch H (vắng mặt)
Đ a ch : àng , th trấn M, huyện , t nh on Tum.
15. nh N, sinh năm 1982 và ch H, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Đ a ch : àng , th trấn M, huyện , t nh on Tum.
16.Ch
(vắng mặt)
17.Anh A V (vắng mặt)
18.Anh A S (vắng mặt)
19. nh R, sinh năm 1982 và ch
(vắng mặt)
20.Ch Đ, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Cùng đ a ch : Thôn , th trấn M, huyện , t nh on Tum.
21.Anh A H, sinh năm 1982 (có mặt)
Đ a ch : Thôn , xã Đ, thành phố , t nh on Tum.
22.Ông Trần Văn T, sinh năm 1970 (có mặt)
Đ a ch : Thôn 8, xã Đ, huyện K, t nh on Tum
23.Ông Trần N, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Đ a ch : 33 T, thành phố , t nh on Tum.
24.Bà Trần Th Thúy H, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Đ a ch : Thôn 2, th trấn Đ, huyện , t nh on Tum.
Ngườ kh ng c o: Ông Tạ Ti n Tr – Nguyên đơn
V ện k ểm s t kh ng nghị: Viện tr ởng Viện kiểm sát nhân dân t nh on Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khở k ện đề ngày 04 th ng 3 năm 2020 và c c lờ kha trong qu trình g ả quyết vụ n, đồng nguy n đơn ông Tạ T ến Tr và bà Trần Thị K m Y trình bày:
Vào năm 2002 – 2003 gia đình ông Tr, bà có khai hoang diện tích đất khoảng 04ha tại Thôn , xã Đ, huyện , t nh on Tum. Vào ngày 04/11/2010 k hợp đồng số 03/2010/HĐTR với Ban quản l dự án phát triển lâm nghiệp huyện để thực hiện dự án trồng rừng Tây Nguyên của Flitch (dự án trồng cây bời lời đỏ, nhà n ớc hỗ trợ tiền cây giống, phân bón tổng cộng là 40.477.038 đồng). Sau đó, vợ chồng ông Ch và bà Tr có xin canh tác hoa màu trên mảnh đất này và có thỏa thuận: ông Ch và bà Tr ch u trách nhiệm thuê nhân công trồng và chăm sóc, khi khai thác gia đình ông Tr, bà sẽ trả 1/3 giá tr lợi nhuận sau khi đã trừ tất cả các chi phí cho ông Ch bà Tr. Năm 2011, gia đình ông Tr bà Y làm đơn xin cấp đất và đ ợc Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQS Đ) thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ số 05, diện tích 42.354,2 m2, đ a ch thửa đất tại: Thôn , xã Đ, huyện , t nh on Tum theo GCNQS Đ số BG 673283. Từ khi cấp đất tới năm 2017 gia đình ông Ch, bà Tr là ng ời giữ giùm GCNQS Đ vì lý do nhà ông Tr bà Y là nhà gỗ, trống trải sợ b mất hoặc cháy thì khó làm lại. Năm 2017 ông Ch bà Tr nhờ vợ chồng ông Tr bà Y k giấy ủy quyền để m ợn GCNQS Đ nói trên để vay Ngân hàng trả nợ cho ch Nguyễn Th ạ Th (là con gái của ông Ch bà Tr). Vì là anh em trong nhà tin t ởng nhau không đọc kỹ nội dung nên đã k văn bản. Vào tháng 7/2019 ông Tr bà Y có gọi điện yêu cầu trả GCNQS Đ đối với thửa đất trên nh ng bà Tr nói đây là đất của con gái (là ch Th) nên không đồng trả lại. Phòng tài nguyên và môi tr ờng huyện và Chi nhánh văn phòng đăng k đất đai huyện K đã thông báo diện tích đất trên đã chuyển nh ợng, cấp GCNQS Đ cho ch Nguyễn Th ạ Th. Ngày 26/7/2019 UBND xã Đ đã ti n hành hòa giải nh ng không thành. o vậy, ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th im đề ngh Tòa án giải quy t: Thứ nhất tuyên bố hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nh ợng ông Tr bà Y và bên nhận chuyển nh ợng ch Th ngày 12/9/2017 là vô hiệu vì l do GCNQS Đ trên cấp cho hộ gia đình tuy nhiên trong hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ch có chữ k của ông Tr bà Y mà không có chữ k của các thành viên còn lại là vi phạm theo điều 64 Ngh đ nh 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 và khoản 2 Điều 212 Bộ luật dân sự năm 2015; thực t vợ chồng ông Tr bà không chuyển nh ợng quyền sử dụng đất trên cho bà Th, hợp đồng trên là gian dối, khoản tiền 200.000.000 trong hợp đồng ông Tr bà không nhận đ ợc, thời điểm lập hợp đồng chuyển nh ợng ông Tr bà Y không có mặt tại UBND xã Đ, huyện . Thứ hai, hủy GCNQS Đ số CĐ 558585, số vào sổ cấp GCN: CS02910 do Sở tài nguyên và môi tr ờng t nh on Tum cấp cho ch Nguyễn Th ạ Th vào ngày 24/10/2017. Thứ ba giải quy t hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Ngô Minh Ch, bà Trần Th Tr, ch Nguyễn Th ạ Th phải chặt phá cây cối gồm cây keo lai (khoảng 02 tháng tuổi), cây chè xanh, bụi tre lấy măng đã trồng và trả lại thửa đất trên cho vợ chồng ông Tr bà .
Bị đơn trình bày:
Về nguồn gốc đất vào ngày 06/4/2002 ch Nguyễn Th ạ Th đ ợc sự đồng thống nhất của bố mẹ là bà Trần Th Tr và ông Ngô Minh Ch là ng ời trực ti p đứng tên trong đơn xin khai hoang đất đối với diện tích 42.354,2 m2 tại khu vực thuộc thôn , xã M, huyện , t nh on Tum (phía đông g p ruộng c a A G, tây g p ruộng A D, nam g p quốc lộ 24, bắc g p ấp cũ) và đ ợc sự chấp thuận k tên trực ti p của đại diện chính quyền đ a ph ơng và xác nhận của chủ t ch UBN xã M. Sau đó gia đình ch Th có ti n hành rào đất, canh tác ổn đ nh trên thửa đất. Trong suốt quá trình từ khi khai hoang, canh tác, sử dụng cho đ n khi chia tách đơn v quản l hành chính ch Th luôn làm các thủ tục khai báo, xin phép cơ quan chức năng và đ ợc sự đồng của chính quyền đ a ph ơng (đơn x n cấp nhà tạm tr n thửa đất vào ngày 05/9/2007, làm đơn g ả trình vào ngày 18/9/2007). Năm 2010 khi triển khai dự án phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên (dự án Flitch) cho những gia đình có hộ khẩu th ờng trú tại huyện , vì thời gian này gia đình ch Th có hộ khẩu th ờng trú tại huyện nên gia đình ông Tr bà đã đề xuất với gia đình sẽ “đứng tên giùm” để đủ điều kiện thực hiện dự án vì ông Tr bà có hộ khẩu th ờng trú tại huyện . Sau khi đ ợc chấp thuận vào dự án gia đình ch Th cụ thể là ông Ch và bà Tr là ng ời trực ti p canh tác, chăm sóc, nhận giống cây, thuê nhân công, d ới sự h ớng dẫn của kỹ thuật viên dự án. Căn cứ hồ sơ, hợp đồng trồng rừng của dự án Flitch nên ngày 19/12/2011 UBN huyện đã cấp GCNQS Đ số BG 673283 cho hộ ông Tr bà vì ý thức đ ợc việc đây là đất khai hoang của gia đình bà Th nên ông Tr bà đã giao lại sổ đỏ cho gia đình ch Th nắm giữ. Vào năm 2014 do ch a k t thúc dự án trồng rừng nên không thể làm thủ tục sang tên và để đảm bảo quyền lợi cho gia đình ch Th nên ngày 06/6/2014 ông Tr bà Y đã k giấy ủy quyền đối với thửa đất trên cho gia đình ch Th tại UBND th trấn Đ, huyện . Ngày 12/9/2017 gia đình ông Tr bà và ch Th đã k k t hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất d ới sự xác nhận và chứng ki n của UBND xã Đ (nay là UBND th trấn M) để nhằm mục đích hoàn trả cho đúng với thực t sử dụng và nguồn gốc đất do gia đình ch Th khai hoang. Trong hợp đồng thể hiện việc k k t đ ợc lập thành 03 bản, trong đó đã nêu rõ “mỗ b n g ữ 01 bản và lưu tạ Uỷ ban nhân dân xã 01 bản”. Đối với số tiền 200.000.000 đồng vì thấy hoàn cảnh khó khăn nên gia đình ch Th đã hỗ trợ trả nợ cho ông Tr bà Y nhiều lần, việc giao nhận tiền trả nợ hoàn toàn tự nguyện mà không ghi lại bằng giấy nhận tiền. Ch Th không đồng với yêu cầu khởi kiện của ông Tr, bà
vì cho rằng ôngTr, bà ch là ng ời đứng tên hộ (đứng tên giùm) trong GCNQS Đ. Đề ngh Tòa án nhân dân huyện Kon Plông bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận ch Nguyễn Th Dạ Th là ng ời có toàn quyền quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất và sở hữu tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 07, thuộc tờ bản đồ số 5, đ a ch thửa đất tại thôn K, xã Đ (nay là th trấn M), huyện K, t nh Kon Tum, diện tích 42.354,2 m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đ n ngày 19/12/2061, nguồn gốc sử dụng: Nhà n ớc công nhận quyền sử dụng đất nh giao đất không thu tiền sử dụng đất nêu trong GCNQS Đ số CĐ 558585, số vào sổ cấp GCN: CS02910 do Sở tài nguyên và môi tr ờng cấp ngày 24/10/2017.
Ngườ có quyền lợ , nghĩa vụ liên quan ông Ngô Minh Ch, anh Th Đức T trình bày:
Hoàn toàn thống nhất với ý ki n của b đơn.
Người có quyền lợ và nghĩa vụ liên quan anh Tạ Thành T và chị Tạ Thị Trầm V trình bày:
Về nguồn gốc đất do gia đình khai hoang vào khoảng năm 2002-2003 với diện tích là khoảng 04ha tại thôn K, th trấn M. Thông qua việc ký k t thực hiện dự án trồng rừng là dự án Flitch đ ợc UBND huyện K cấp GCNQS Đ số BG 673283 vào ngày 19/12/2011 cho hộ gia đình ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th Kim Y. Đây là tài sản chung của các thành viên trong hộ gia đình nh ng tại bản hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất vào ngày 12/9/2017 giữa ch Nguyễn Th ạ Th và ông Tr, bà không có chữ k của các thành viên còn lại trong gia đình, anh T và ch V không đ ợc bi t và cũng không đồng việc chuyển nh ợng. Hợp đồng trên không có chữ k hoặc văn bản ủy quyền của các thành viên còn lại trong hộ gia đình là không đúng với quy đ nh của pháp luật, đã làm ảnh h ởng đ n quyền và lợi ích hợp pháp, việc số tiền chuyển nh ợng trong hợp đồng là 200.000.000 đồng anh T và ch V cũng không đ ợc bi t. Vì vậy, thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn là ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th im .
Đạ d ện ngườ có quyền lợ , nghĩa vụ l n quan UBND xã Đ (nay là thị trấn M) trình bày:
Ngày 12/9/2017 thấy các bên có mặt tại UBN xã Đ tham gia k k t hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 07, thuộc tờ bản đồ số 5, đ a ch thửa đất tại thôn K, xã Đ (nay là th trấn M), huyện K, t nh Kon Tum, diện tích 42.354,2 m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đ n ngày 19/12/2061, nguồn gốc sử dụng: Nhà n ớc công nhận quyền sử dụng đất với giá chuyển nh ợng là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), ph ơng thức thanh toán tiền mặt. Bên A-bên chuyển nh ợng (Ông Tr, bà ) có nghĩa vụ giao đất và các giấy tờ về quyền sử dụng đất cho bên B - bên nhận chuyển nh ợng (bà Th); bên B có nghĩa vụ đăng k quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà n ớc có thẩm quyền theo quy đ nh của pháp luật. Lệ phí liên quan đ n việc chuyển nh ợng quyền sử dụng đất theo hợp đồng này bên B nộp.
Trong hợp đồng thể hiện: việc ký k t đ ợc lập thành 03 bản, trong đó đã nêu rõ “mỗi bên giữ 01 bản và l u tại Uỷ ban nhân dân xã 01 bản”, d ới mỗi trang của 03 bản hợp đồng đều có chữ ký của ông Tr, bà Y kèm theo sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân của cả 2 bên đầy đủ nên Chủ t ch UBN xã Đ đã làm thủ tục công chứng theo quy đ nh của pháp luật đồng thời ban hành công văn số 23/CV gửi cho ông Tr bà để bổ sung giấy ủy quyền đối với các con.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Kon Plông xử:
Căn cứ khoản 3, khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157; Điều 158, khoản 1 Điều 160, điểm đ khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự. hoản 1 Điều 6, khoản 3, khoản 5 Điều 26, điểm a, b khoản 2 Điều 27 Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 117; Điều 500; Điều 501; Điều 502 Điều 503 của Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Điều 130; Điều 167, Điều 168, Điều 169, Điều 188, Điều 191, Điều 192 uật đất đai 2013.
hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
Tuyên bố hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nh ợng ông Tr bà và bên nhận chuyển nh ợng ch Th ngày 12/9/2017 là vô hiệu; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 558585, số vào sổ cấp GCN: CS02910 do Sở tài nguyên và môi tr ờng t nh on Tum cấp cho ch Nguyễn Th ạ Th vào ngày 24/10/2017; giải quy t hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Ngô Minh Ch, bà Trần Th Tr, ch Nguyễn Th ạ Th phải chặt phá cây cối gồm cây keo lai (khoảng 2 tháng tuổi), cây chè xanh, bụi tre lấy măng đã trồng và trả lại thửa đất trên cho vợ chồng ông Tr bà .
Chấp nhận yêu cầu phản tố của b đơn: Công nhận ch Nguyễn Th Dạ Th là ng ời có toàn quyền quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất và sở hữu tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 7, diện tích 42.354,2m2, thuộc tờ bản đồ số 5, đ a ch thửa đất thôn , xã Đ (nay là th trấn M), huyện K, t nh on Tum đ ợc nêu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số cấp CĐ 558585, số vào sổ cấp GCN: CS02910 ngày 24/20/2017 do Sở tài nguyên và Môi tr ờng t nh Kon Tum cấp. Đồng thời, ch Th đ ợc quyền liên hệ các cơ quan chức năng xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất trên toàn bộ thửa đất nêu trên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 15/11/2021, nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Ngày 30/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân t nh on Tum có Quy t đ nh kháng ngh phúc thẩm toàn bộ bản án sơ thẩm đề ngh Tòa án nhân dân t nh on Tum xét xử phúc thẩm theo h ớng hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện on Plông giải quy t lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr giữ nguyên nội dung kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân t nh on Tum giữ nguyên quy t đ nh kháng ngh .
Nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th Kim Y không rút đơn khởi kiện. Đại diện theo ủy quyền của b đơn bà Trần Th Tr đề ngh rút yêu cầu phản tố. Nguyên đơn và những ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ki n gì về việc rút yêu cầu phản tố của b đơn.
Các bên đ ơng sự không thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quy t vụ án.
* Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân t nh on Tum:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Th k phiên tòa và các đ ơng sự tuân thủ đầy đủ và đúng các quy đ nh của B TT S.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác đ nh đ ợc nguồn gốc đất do ông Tr, bà Y khai hoang, sau đó năm 2010 đ ợc k k t dự án trồng rừng và năm 2011 đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa ông Tr, bà Y với ch Th năm 2017 không đúng quy đ nh pháp luật, làm ảnh h ởng đ n quyền và lợi ích hợp pháp của những ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngoài ra, bản án sơ thẩm xác đ nh nguồn gốc đất tranh chấp là của gia đình ch Th và công nhận ch Th đ ợc toàn quyền quản l , sử dụng diện tích đất và tài sản trên đất nh ng lại nhận đ nh ông Tr, bà là ng ời sử dụng đất và công nhận hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa ông Tr, bà và ch Th đúng quy đ nh pháp luật là hoàn toàn mâu thuẫn. Vì vậy, đề ngh HĐXX phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng ngh của V SN t nh on Tum và kháng cáo của nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện on Plông giải quy t lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra tại phiên toà; căn cứ k t quả tranh tụng tại phiên toà, ki n giải quy t vụ án của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
Về thủ tục: Đơn kháng cáo, quy t đ nh kháng ngh đúng quy đ nh.
Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr, kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân t nh on Tum thấy rằng:
Ông Tạ Ti n Tr cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đ a yêu khởi kiện hủy GCNQS Đ số CĐ 558585 do Sở tài nguyên môi tr ờng t nh on Tum cấp ngày 24/10/2017 cho ch Nguyễn Th ạ Th vào để xét xử là vi phạm nghiêm trọng về tố tụng là không đúng vì yêu cầu khởi kiện này đã đ ợc Tòa án cấp sơ thẩm thụ l , đánh giá trong bản án sơ thẩm. Căn cứ phần II Giải đáp 02/GĐ-T N TC ngày 19/9/2016 và mục 2 phần II Công văn 64/T N TC_PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp sơ thẩm không đ a Sở tài nguyên môi tr ờng t nh on Tum vào tham gia tố tụng và chuyển vụ án lên Tòa án t nh để giải quy t theo thẩm quyền là đúng quy đ nh.
Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp:
Theo lời khai các bên đ ơng sự, công văn số 33/CT _ H T ngày 09/3/2022 của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp , quy t đ nh 934/QĐ-UB ngày 10/12/2001 của UBN t nh on Tum xác đ nh đ ợc v trí diện tích đất tranh chấp 42.354,2m2, thửa đất số 7, tờ bản đồ số 05, tại àng , xã M (đ n năm 2004 thuộc xã Đ, đ n năm 2019 đổi tên thành th trấn M), huyện , t nh on Tum thuộc khoảnh 1, tiểu khu 485 là đất rừng tự nhiên thuộc sự quản l của âm tr ờng M từ năm 2002 đ n năm 2014 v trí đất này không thuộc lâm phần Công ty TNHH MTV lâm nghiệp .
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quy t vụ án nguyên đơn cho rằng diện tích đất này do nguyên đơn khai hoang năm 2002-2003, tr ớc khi khai hoang có làm giấy tờ xin phép gửi chính quyền xã M và đ ợc già làng, thôn tr ởng, chính quyền xã xác nhận đồng cho khai hoang, trong giấy tờ ch xin một khu đất chứ không ghi diện tích đất cụ thể, giấy tờ này ông bà đã nộp lại cho chính quyền xã để đ ợc tham gia dự án trồng rừng. o điều kiện khí hậu khắc nghiệt không bi t trồng cây gì nên ông bà ch phát dọn chứ ch a trồng cây gì trên đất cho đ n năm 2010 có dự án. Nh ng tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn cho rằng năm 2002 ch xin khai hoang đ n năm 2005, 2007 mới phát dọn là ch a thống nhất về thời điểm khai hoang. Để chứng minh về nguồn gốc đất, tại giai đoạn sơ thẩm, ông bà cung cấp cho Tòa án đơn xin đất rừng tự nhiên để khai hoang làm nông nghiệp đề tháng 6/2000 và sơ đồ kèm theo đơn xin đất rừng (bút lục 603) khẳng đ nh đây là giấy tờ xin khai hoang đối với diện tích đất đang tranh chấp, ông bà thừa nhận do một số chữ b mờ nhòe nên ông bà tự ghi lại nội dung. Đ n giai đoạn phúc thẩm tại biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2022 (bút lục 735) ông bà lại khẳng đ nh đơn này không phải xin khai hoang diện tích đất tranh chấp mà là xin khai hoang diện tích đất khác là có sự mâu thuẫn trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh. Ngoài ra, ông bà cũng không nắm rõ diện tích, tứ cận, không cung cấp đ ợc tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh cũng nh ng ời làm chứng về việc khai hoang đất. Riêng ng ời làm chứng ông Đinh Văn H tại biên bản làm việc ngày 24/02/2022 (bút lục 736) khẳng đ nh ông đ ợc ông Tr cho xem giấy tờ khai hoang nh ng không bi t diện tích, tứ cận hơn nữa ông H khẳng đ nh lên huyện thực hiện dự án vào tháng 12 năm 2004 trong khi nguyên đơn cho rằng khai hoang đất năm 2002-2003 thì ông H không thể làm chứng về việc khai hoang đất đ ợc. Hơn nữa, tại nội dung nói chuyện ngày 16/01/2020 giữa vợ chồng ông Ch, bà Tr với ông H đã đ ợc ông Ch, bà Tr ghi âm lại với nội dung ông H đồng làm chứng cho vợ chồng ông Ch, bà Tr. Tại phiên tòa, ông H lại khẳng đ nh đất của ông Tr, bà hơn nữa ông H và b đơn đều thừa nhận hiện nay giữa họ đang có mâu thuẫn xuất phát từ việc tranh chấp đất đai vì vậy lời khai của ông H là không thống nhất, mâu thuẫn, không khách quan không có giá tr chứng minh.
Về phía b đơn ch Nguyễn Th ạ Th khẳng đ nh nguồn gốc đất tranh chấp do gia đình ch khai hoang từ năm 2002 thể hiện qua đơn xin khai hoang đất ngày 06/4/2002 (bút lục 764 ) do ch đứng tên có diện tích khoảng 05ha tại thôn 11 làng , huyện , có tứ cận Đông giáp ruộng G (nay gọi là N), Tây giáp ruộng
, Bắc giáp quốc lộ 24, Nam giáp ấp cũ. do, tại thời điểm năm 2002 ch Th mới 20 tuổi đã đứng tên trên giấy tờ khai hoang đất vì trong quá trình làm việc tại huyện , bà Trần Th Tr (mẹ ch Th) đ ợc bi t chính quyền huyện tạo điều kiện cho ng ời dân khai hoang đất nh ng tại thời điểm đó gia đình bà không có hộ khẩu tại đ a ph ơng, ch có ch Th có hộ khẩu trên huyện (ngày 19/12/1992 ch Th nhập khẩu vào gia đình nhà chú dì để đ ợc cộng điểm khi đi thi đại học theo sổ hộ khẩu gia đình ông ê uy H bút lục 410) nên gia đình thống nhất để ch Th đứng tên trên đơn xin khai hoang đất ngày 06/4/2002, chứ ng ời trực ti p khai hoang, canh tác chủ y u trên thực t là ông Ngô Minh Ch và bà Trần Th Tr.
Qua xem xét đơn xin khai hoang ngày 06/4/2002 thể hiện diện tích, tứ cận, có xác nhận của già làng, tr ởng thôn, cán bộ đ a chính xã, và chủ t ch xã M k , đóng dấu. Tòa án ti n hành xác minh đối với ông P là tr ởng thôn k xác nhận trong đơn xin khai hoang đất, có nhà ở và đất gần với diện tích đất tranh chấp (biên bản xác minh 738) và anh N (biên bản xác minh 274) là ng ời có đất giáp tứ cận trong đơn xin khai hoang đất, anh T là cán bộ công an xã có đất rẫy đối diện đất tranh chấp (biên bản xác minh 272), bà Y L là cán bộ hội phụ nữ xã (biên bản xác minh 737) đều khẳng đ nh đất tranh chấp do gia đình ông Ch, bà Tr, ch Th khai hoang chứ không phải của gia đình ông Tr, bà Y. Ngoài ra, gia đình b đơn còn thuê một số ng ời thực hiện công việc khai hoang đất là anh A B, A B, ch H, ch Đ, ch
, anh R, ch
, anh V, anh A S. Những ng ời này đều xác nhận đã làm công khai hoang cho gia đình ông Ch, bà Tr từ năm 2002 và trong quá trình làm công không gặp và không bi t ông Tr, bà (đơn xin xác nhận 218, 220, 749; biên bản xác minh 273, 276).
Về quá trình sử dụng đất:
Nguyên đơn cho rằng khi khai hoang xong không trồng trọt cây cối gì trên đất đ n năm 2010 khi có dự án trồng rừng Flitch gia đình ông bà mới bắt đầu canh tác sử dụng trồng cây dự án. Chứng cứ chứng minh là hồ sơ trồng rừng tất cả đều do ông Tr, bà đứng tên. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm anh Tạ Thành T khẳng đ nh từ khi khai hoang không sinh sống trên mảnh đất tranh chấp. Tại biên bản xác minh ngày 14/10/2020 (bút lục 357) xác đ nh đ ợc ngày 08/10/2013 hộ gia đình ông Tr, bà cắt khẩu và chuyển hộ khẩu về th trấn Đ, huyện , tại phiên tòa sơ thẩm ông Tr cũng khẳng đ nh gia đình ông chuyển về huyện sinh sống tr ớc sau đó mới chuyển hộ khẩu về sau với l do con gái b ốm cần thay đổi khí hậu.
Phía b đơn thừa nhận việc ông Tr, bà đứng tên trên hồ sơ thực hiện dự án trồng rừng trên diện tích đất tranh chấp là đúng vì tin t ởng ng ời thân trong gia đình (bà là em gái ruột của bà Tr) nên b đơn nhờ ông Tr, bà đứng tên. Bởi l do, điều kiện để tham gia dự án trồng rừng phải có hộ khẩu tại đ a bàn xã trong khi ngày 31/01/2002, huyện đ ợc chia tách thành hai huyện và huyện K theo Ngh đ nh 14/2002/NĐ-CP của Chính phủ, hộ khẩu của ch Th khi đó thuộc huyện còn đất khai hoang lại thuộc huyện nên gia đình b đơn mới phải nhờ gia đình ông Tr bà đứng tên. Trên thực t tr ớc khi khai hoang, hiện trạng đất tranh chấp ban đầu là đất trống trên nền ấp cũ thời chi n tranh ch a có ai làm vì sợ bom mìn, có một vài cây thông tự nhiên, cỏ lau, cây sim, vv…Sau khi đ ợc chính quyền xã cho phép thì gia đình b đơn trồng tre, cây trà, keo, xà cừ và nhiều cây khác nh ng b trâu bò phá nên năm 2007 mới làm đơn xin cấp nhà tạm. ời khai này phù hợp với tài liệu, chứng cứ là đơn xin cấp nhà tạm ngày 05/9/2007 (bút lục 761) và đơn xin giải trình ngày 18/9/2007 (bút lục 762) đều có xác nhận của chính quyền đ a ph ơng và những ng ời làm chứng anh H (biên bản làm việc 770, bản tự khai 768) khai có làm thuê cho ông Ch, bà Tr từ năm 2006; anh N giúp làm hàng rào; anh A B giúp khai hoang đào hố, trồng cây, làm cỏ, làm hàng rào cho ông Ch, bà Tr; ông Phạm Quang V xác nhận đ ợc ông Ch thuê làm nhà tạm (biên bản xác minh 275); ông T là cán bộ công an xã, ông Quách Văn Đ nguyên là cán bộ t pháp xã Đ (biên bản xác minh 279), ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Ngọc X nguyên là cán bộ dự án trồng rừng (biên bản xác minh 277) khẳng đ nh gia đình ông Tr ch đứng ra k hợp đồng còn ng ời trực ti p thực hiện dự án nhận cây giống, h ớng dẫn kỹ thuật trồng cây từ cán bộ dự án là ông Ch. Đặc biệt, bà Trần Th Th (là mẹ của bà Tr, bà ), anh Trần N, anh Trần Văn T, ch Trần Th Thúy H (là anh em ruột với bà Tr, bà ) khẳng đ nh đất tranh chấp do ông Ch, bà Tr khai hoang và sử dụng đ n nay (biên bản lấy lời khai 278, giấy cam đoan 748). Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Văn T khẳng đ nh diện tích đất tranh chấp do vợ chồng ông Ch, bà Tr khai hoang, sử dụng. Ngoài ra, có căn cứ thể hiện thời điểm khai hoang ch Th có hộ khẩu th ờng trú tại huyện (bút lục 751), ông Ch có khai báo tạm trú năm 2007, 2008 và sau đó đăng k hộ khẩu th ờng trú cho đ n nay (bút lục 752).
Đối với căn nhà tạm b đơn khai do b đơn làm năm 2007 hiện nay vẫn còn nh ng không nằm trong phạm vi diện tích đất tranh chấp đã đ ợc GCNQS Đ, căn nhà này tại phiên tòa sơ thẩm ông Tr khẳng đ nh do ông Ch, bà Tr xây dựng khi đ n xin canh tác chung, tuy nhiên tại đơn khởi kiện ông Tr, bà Y cho rằng khi có dự án Flitch năm 2010 ông Ch bà Tr mới xin canh tác chung, nh ng tại phiên tòa sơ thẩm, ông Tr lại cho rằng ông Ch bà Tr làm nhà tạm khi xin canh tác chung tr ớc năm 2010 một, hai năm.
Tại biên bản xem xét, thẩm đ nh tại chỗ ngày 12/8/2020 (bút lục 210) thể hiện trên diện tích đất tranh chấp còn tồn tại số l ợng cây cối ngoài cây trồng theo dự án còn có 08 bụi tre lấy măng hơn 15 năm tuổi, 01 cây chanh trồng năm 2007, 360 cây trà xanh trồng năm 2007, 01 cây keo lá tràm trồng năm 2006. Vì vậy, có cơ sở xác đ nh tuổi của những cây cối này tồn tại tại thời điểm ông Tr, bà Y khai đang sử dụng đất tuy nhiên ông Tr, bà Y cho rằng không trồng gì trên đất cho đ n năm 2010 mới trồng cây dự án, khi khởi kiện lại yêu cầu chặt bỏ cây cối trả lại đất là có sự mâu thuẫn. Ng ợc lại số l ợng cây cối này là thực t chứng minh lời khai của b đơn là có cơ sở. Sau khi tranh chấp xảy ra, trong cuộc nói chuyện giữa ông Ch và ông Tr đã đ ợc ghi âm lại ngày 02/9/2017 (bút lục 151), ông Ch có đề cập đ n việc ch Th khai hoang đất và việc gia đình đã bỏ công sức tiền bạc trên diện tích đất, nội dung ông Tr có 07 sào đất nh ng không làm đ ợc nh ng ông Tr không có ki n gì và thừa nhận ti ng nói của mình trong đoạn ghi âm.
Vì vậy, qua đánh giá lời khai của các bên tranh chấp thấy rằng lời khai của nguyên đơn có nhiều mâu thuẫn, không thống nhất, không cung cấp đ ợc tài liệu chứng cứ chứng minh, lời khai của b đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án và lời khai của những ng ời làm chứng có đủ cơ sở khẳng đ nh nguồn gốc diện tích đất tranh chấp do gia đình b đơn khai hoang năm 2002 và sử dụng ổn đ nh, liên tục cho đ n nay.
Việc kê khai, đăng k cấp GCNQS Đ:
iện tích đất tranh chấp đã đ ợc cấp GCNQS Đ năm 2011 cho gia đình ông Tr, bà Y, tuy nhiên ông Tr, bà Y không cung cấp đ ợc giấy tờ khai hoang, đơn xin cấp GCNQS Đ và cũng không thu thập đ ợc tại các cơ quan có thẩm quyền. Qua xem xét hồ sơ xét duyệt cấp GCNQS Đ xác đ nh đ ợc việc cấp GCNQS Đ nhằm tạo điều kiện cho các hộ dân đang thực hiện dự án trồng rừng để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên. Chính vì dự án ch a k t thúc, gia đình ông Tr, bà đang đ ợc gia đình ch Th nhờ đứng tên trên dự án nên gia đình ch Th nhất trí để ông Tr, bà ti p tục đ ợc cấp GCNQS Đ. Trên thực t từ khi cấp GCNQS Đ từ năm 2011 gia đình ông Ch, bà Tr là ng ời giữ GCNQS Đ này, nội dung này các bên đều thừa nhận.
Đối với hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa ông Tạ Ti n Tr, bà Trần Th im với ch Nguyễn Th ạ Th ngày 12/9/2017 và GCNQSDĐ cấp cho ch Nguyễn Th ạ Th:
Xét thấy, hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa ông Tạ Ti n Tr, bà Trần Th im với ch Nguyễn Th ạ Th đã đ ợc chứng thực tại UBN xã Đ ngày 12/9/2017. Tr ớc khi k hợp đồng, vào năm 2014 giữa hai bên còn k giấy ủy quyền sử dụng đất đã đ ợc UBN xã Đ xác nhận. Lý do năm 2014 các bên ch a thực hiện ngay việc chuyển nh ợng, b đơn cho rằng do dự án trồng rừng ch a k t thúc là phù hợp với tài liệu, chứng cứ là hợp đồng k k t trồng rừng với thời hạn hợp đồng là 07 năm và năm 2016 ông Tr mới k biên bản thanh l hợp đồng. Nguyên đơn cho rằng không k hợp đồng chuyển nh ợng năm 2017 mà b ông Ch, bà Tr lừa k nh ng chính ông Tr, bà Y lại yêu cầu giám đ nh chữ k , chữ vi t trong hợp đồng, tại t luận giám đ nh số 197/ GĐ-PC09 ngày 25/9/2020 (bút lục 345) k t luận chữ k và chữ vi t trong hợp đồng là của ông Tr, bà Y. Ông Tr, bà Y cho rằng ông Ch, bà Tr nói ông bà k để vay vốn ngân hàng cho ch Th nh ng ông Tr, bà Y cũng thừa nhận đã từng đi vay th chấp tại ngân hàng nên ông bà phải bi t về thủ tục này, ngoài ra ông Tr, bà Y cũng không cung cấp đ ợc chứng cứ chứng minh và ng ời làm chứng về việc mình b ông Ch bà Tr lừa k hợp đồng. Trong khi ông Phan Ngọc H là chủ t ch UBN xã Đ là ng ời k chứng thực hợp đồng, ông Quách Văn Đ là cán bộ thụ l hồ sơ chứng thực đều khẳng đ nh vợ chồng ông Tr bà Y có mặt khi chứng thực và cùng k tên vào hợp đồng.
Qua xác minh, làm rõ GCNQS Đ năm 2011 cấp cho hộ gia đình ông Tr, bà Y nh ng khi k hợp đồng ch có ông Tr, bà Y k tên trên hợp đồng mà ch a đ ợc các con của ông Tr, bà Y đồng k tên là không đúng quy đ nh tại khoản 2 Điều 212 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 64 Ngh đ nh 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Hơn nữa, hợp đồng còn vi phạm về hình thức vì trên từng trang hợp đồng đều không có chữ k của bên nhận chuyển nh ợng là ch Nguyễn Th ạ Th và ng ời thực hiện chứng thực là ông Phan Ngọc H và không đóng dấu giáp lai (ở trang chứng thực) là vi phạm khoản 4 Điều 36 ngh đ nh 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ. Tuy nhiên, qua xem xét, đánh giá xác đ nh đ ợc diện tích đất tranh chấp do gia đình b đơn khai hoang, sử dụng, việc các bên lập hợp đồng với mục đích chuyển lại cho đúng chủ thể sử dụng đất, do vậy hợp đồng không đúng quy đ nh nh ng không ảnh h ởng đ n quyền, lợi ích hợp pháp của anh Tạ Thành T và ch Tạ Th Trầm V vì thực t diện tích đất này không phải của gia đình ông Tr bà Y và hiện nay ng ời nhận chuyển nh ợng ch Nguyễn Th ạ Th đã đ ợc cấp giấy GCNQS Đ nên không cần thi t tuyên hợp đồng vô hiệu và hủy GCNQS Đ.
Đối với số tiền chuyển nh ợng ghi trong hợp đồng là 200.000.000 đồng, b đơn cho rằng đã thanh toán đủ cho nguyên đơn, nguyên đơn cho rằng ch a nhận số tiền này, thấy rằng sau khi k k t hợp đồng, quyền sử dụng đất đã đ ợc sang tên cho bên nhận chuyển nh ợng và các bên đ ơng sự không có yêu cầu giải quy t số tiền này trong vụ án nên không xem xét.
Đối với yêu cầu phản tố của b đơn: êu cầu của b đơn không phải là yêu cầu phản tố mà ch là ki n trong vụ án vì yêu cầu này nằm trong phạm vi phán xét yêu cầu của nguyên đơn, hơn nữa ch Th đã đ ợc cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQS Đ; b đơn yêu cầu sau khi hòa giải công khai chứng cứ nh ng Tòa án cấp sơ thẩm thụ l là không đúng quy đ nh tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự. Và ngày 28/4/2022 ng ời đại diện theo ủy quyền của b đơn đã có đơn rút đối với yêu cầu phản tố này. Vì vậy, cần đình ch xét xử đối với yêu cầu phản tố của b đơn và sửa bản án sơ thẩm về nghĩa vụ nộp án phí đối với yêu cầu phản tố.
Ngoài ra, tại bản án sơ thẩm xác đ nh nguồn gốc đất tranh chấp là của gia đình ch Th và công nhận ch Th đ ợc toàn quyền quản l , sử dụng diện tích đất và tài sản trên đất nh ng lại nhận đ nh ông Tr, bà Y là ng ời sử dụng đất và công nhận hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa ông Tr, bà Y và ch Th đúng quy đ nh pháp luật là hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. o đó, Tòa án nhân dân huyện on Plông cần rút kinh nghiệm trong công tác xét xử đối với nội dung này.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân t nh on Tum.
Về án phí: o kháng cáo không đ ợc chấp nhận nên nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2, khoản 5 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
hông chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr;
hông chấp nhận quy t đ nh kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân t nh Kon Tum.
Đình ch xét xử đối với yêu cầu phản tố của b đơn ch Nguyễn Th ạ Th.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/ S-ST ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Kon Plông, t nh on Tum về nghĩa vụ nộp án phí.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 160, Điều 161 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 117; Điều 500; Điều 501; Điều 502 Điều 503 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 5 uật đất đai năm 1993; Điều 9, Điều 166 uật đất đai 2013.
hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th im .
Về án phí: Buộc ông Tạ Ti n Tr phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nh ng đ ợc khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003606 ngày 18/11/20201 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông, t nh Kon Tum
Buộc ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th im phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nh ng đ ợc khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006517 ngày 17/03/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông, t nh Kon Tum.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản: Buộc ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th Kim Y phải nộp chi phí xem xét thẩm đ nh tại chỗ, chi phí đ nh giá tài sản là: 3.500.000 đồng (Ông Tr bà Y đã nộp đủ).
Về chi phí giám định: ông Tạ Ti n Tr và bà Trần Th Kim Y phải nộp chi phí giám đ nh là: 1.800.000 đồng (Ông Tr bà Y đã nộp đủ).
Trả lại cho b đơn Nguyễn Th Dạ Th 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà b đơn đã nộp theo theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0006538 ngày 05/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kon Plông, t nh Kon Tum.
Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b c ỡng ch thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự.
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/6/2022).
| Nơi nhận: - TAND huyện Kon Plông; - V SN t nh; - Chi cục TH S huyện Kon Plông; - Các đ ơng sự; - L u HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tỷ |