- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc L - TTMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HSST Ngày 03-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Huy và bà Đình Thị Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/HSST ngày 02-4-2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/QĐXXST-HS ngày 21-5-2021, đối với bị cáo:
Dương Ngọc L; tên gọi khác: không; sinh ngày: 16 tháng 3 năm 1986 tại tỉnh Y1; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H1, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Dương Đức X (đã chết) và bà: Phạm Thị Y, sinh năm: 1960; chồng: Vũ Đình Z, sinh năm 1979 (đã ly hôn) và 02 con: con lớn sinh năm: 2015, con bé sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 08-3-2002 bị Công an thành phố Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau (Quyết định số 20); ngày 30-7-2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bản án số 63/2007/HSST), ngày 30-6-2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt tiền về tội Đánh bạc (Bản án số 43/2017/HSST). Bị cáo bị bắt ngày 23-12-2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.
* Người chứng kiến: Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1956, địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H1, thành phố Y, tỉnh Y1. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Ngọc L là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 02 giờ sáng ngày 23-12-2020, L đi đến khu vực “xóm bụi” thuộc tổ dân phố H, phường H1, thành phố Y mua 500.000 đồng được 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá (Methamphetamine) của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể để sử dụng cho bản thân. Trên đường từ xóm bụi về nhà, L phát hiện trên mặt đường có các gói ma túy tổng hợp, thuốc phiện, heroin nên đã nhặt về cất giữ.
Đến khoảng khoảng 07 giờ 10 phút cùng ngày, tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Yên Bái làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đã kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang tại chỗ ở của L thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường H1, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của L: 01 bình thủy tinh hình bầu dục màu trắng, miệng có nắp đậy hình tròn màu bạc, phía trên nắp có 01 đoạn ống nhựa loại ống hút nước và 01 cóong thủy tinh bên trong chứa chất ma túy; 01 giấy chứng minh nhân dân số 060777868 mang tên Dương Ngọc L.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Dương Ngọc L, thu giữ:
- 01 con ếch bằng nhựa màu xanh bị rách ở phần chân, bên trong có 01 đoạn dây nilon trắng chứa chất ma túy.
- Số tiền 3.100.000 đồng.
- 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại Samsung màu đen loại màn hình cảm ứng lắp sim số thuê bao: 0365.614.456 và 0984.870.393; 01 điện thoại Nokia màu xanh đen loại bàn phím lắp sim số thuê bao: 0878.263.386 và 0385.115.871; 01 điện thoại Nokia màu đen loại bàn phím lắp sim số: 0818.322.360.
- 01 hộp màu đen có khóa kéo bên trong có: 01 cân điện tử màu đỏ mặt sau có chữ “made in china”; 01 cân điện tử màu đen kiểu giống chìa khóa của xe ô tô, mặt sau có chữ “OPEN”; 01 chiếc kéo bằng kim loại có cán bằng nhựa màu đen; 10 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu xanh và 01 vỏ túi nilon màu đen được hàn kín lại và hở một đầu.
- 01 hộp màu xanh có hình và chữ, hộp hình trụ tròn, có chiều cao khoảng 08 cm, đường kính khoảng 3,5 cm bên trong có nhiều gói nilon màu đen và trắng đều được hàn kín, bên trong các gói nilon có chứa chất ma túy.
- 01 gói nilon màu đen được giữ cố định bằng cục nam châm màu đen hình bán nguyệt, bên trong có nhiều túi nilon màu trắng chứa chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số: 27/GĐMT ngày 30-12-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:
1. Chất tinh thể màu trắng ngà dính trong ống thủy tinh thu giữ của Dương Ngọc L khi bắt quả tang không xác định được khối lượng là ma túy, loại Methamphetamine.
2. Chất bột nén màu trắng thu giữ tại phòng ngủ của khi khám xét Dương Ngọc L có tổng khối lượng là 2,98 gam là ma túy, loại Heroin.
3. Chất nhựa dẻo màu nâu trong 02 gói nilon màu trắng thu giữ trong phòng ngủ của Dương Ngọc L khi khám xét có tổng khối lượng là 5,6 gam, tìm thấy Codeine, Morphine, Thebaine.
4. Chất nhựa dẻo màu nâu đen trong 07 gói nilon màu đen thu giữ trong phòng ngủ của Dương Ngọc L khi khám xét có tổng khối lượng là 20,9 gam, là ma túy, là Thuốc phiện.
5. Chất nhựa dẻo màu nâu trong 01 gói nilon màu đen thu giữ trong phòng ngủ của Dương Ngọc L khi khám xét có khối lượng là: 3,3 gam, tìm thấy Codeine, Morphine, Thebaine.
6. Chất tinh thể màu trắng thu giữ tại góc đệm gần đầu Wifi trong phòng ngủ khi khám xét Dương Ngọc L có tổng khối lượng là 5,78 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 11-5-2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái đã trưng cầu giám định bổ sung về loại ma túy đối với các mẫu giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận tìm thấy Codeine, Morphine, Thebaine. Kết luận giám định số 3582/C09-TT2 ngày 12-5-2021 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an đã đã kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu gửi giám định là Thuốc phiện.
Cáo trạng số 11-CT-VKSTP ngày 31-3-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố Dương Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Dương Ngọc L từ 06 năm đến 07 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy của Dương Ngọc L trong ngày 23-12-2020, tại khu vực thuộc tổ dân phố H, phường H1, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Dương Ngọc L đã tàng trữ 2,98 gam ma túy loại Heroin; 29,8 gam thuốc phiện và 5,78 gam ma túy loại Methamphetamine. Căn cứ theo quy định tại điều 249 của Bộ luật hình sự thì 5,78 gam Methamphetamine thuộc trường hợp quy định khoản 2, còn 29,8 gam thuốc phiện và 2,98 gam Heroin thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Do khối lượng của cả 03 chất ma túy đều dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 3 điều 249 Bộ luật Hình sự và khối lượng Methamphetamine thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nên sẽ áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định Số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy để tính tổng khối lượng của cả 03 chất ma túy như sau:
Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của cả 03 chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự = 2.9% (Tỷ lệ phần trăm của 29,8 gam thuốc phiện so với 1000 gam thuốc phiện) + 9,9% (Tỷ lệ phần trăm của 2,98 gam heroin so với 30 gam heroin) + 19,2% (Tỷ lệ phần trăm của 5,78 gam Methamphetamine so với 30 gam Methamphetamine) = 32%.
Vì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của thuốc phiện, Heroine và Methamphetamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó quy định tại khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là dưới 100%, nên tổng khối lượng của 03 chất ma túy trong trường hợp này thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đây là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn về ma túy và các loại tội phạm khác trong xã hội.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi của bản thân, nhưng nghiện ma túy dẫn đến phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, bị xét xử về các tội Mua bán trái phép chất ma túy và Đánh bạc (đã được xóa tiền sự, xóa án tích), nhưng bị cáo không lấy đây làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Vì vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, tài sản, thu nhập, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về nguồn gốc số ma túy loại Methaphetamine, Heroin và thuốc phiện bị thu giữ khi bắt quả tang và khám xét chỗ ở của L, L khai mua của một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và nhặt được ở ven đường thuộc Tổ dân phố H, phường H1, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái nên cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái không đủ cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án này là phù hợp.
Đối với bà Trần Thị K là người cho L mượn nhà tại Tổ dân phố H, phường H1, thành phố Yên Bái để ở và mở quán, bà K không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của L nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,08 gam ma túy loại Heroin; 0,58 gam ma túy loại Methamphetamine và 07 gam thuốc phiện cơ quan điều tra đã sử dụng giám định hết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Còn lại 2,9 gam ma túy loại Heroin; 5,2 gam ma túy loại Methamphetamine và 22,8 gam thuốc phiện được niêm phong (sau khi đã trích mẫu giám định), cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với các tài sản gồm: số tiền 3.100.000 đồng; 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại Samsung màu đen loại màn hình cảm ứng lắp sim số thuê bao: 0365.614.456 và 0984.870.393; 01 điện thoại Nokia màu xanh đen loại bàn phím lắp sim số thuê bao: 0878.263.386 và 0385.115.871; 01 điện thoại Nokia màu đen loại bàn phím lắp sim số: 0818.322.360; 01 giấy chứng minh nhân dân số 060777868 mang tên Dương Ngọc L - là các tài sản hợp pháp của L, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho L nhưng cần tạm giữ số tiền 3.100.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 con ếch bằng nhựa màu xanh bị rách ở phần chân; 01 hộp màu xanh hình trụ tròn; 01 cục nam châm màu đen hình bán nguyệt; 05 vỏ phong bì đã mở niêm phong; các mảnh nilon, túi nilon, giấy gói; 01 bình thủy tinh bầu dục trắng miệng có nắp đậy hình tròn màu bạc, trên nắp có 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 ống thủy tinh màu trắng phần đầu ống được uốn cong và có hình phễu tròn; 01 vỏ túi nilon màu đen được hàn lại và hở một đầu; 10 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền xanh, là những đồ vật có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 hộp màu đen có khóa kéo, 01 cân điện tử màu đỏ mặt sau có chữ “made in china”; 01 cân điện tử màu đen kiểu giống chìa khóa của xe ô tô, mặt sau có chữ “OPEN”; 01 chiếc kéo bằng kim loại có cán bằng nhựa màu đen là các tài sản của L, không liên quan đến tội phạm nhưng L không yêu cầu nhận lại, xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106, điều 136, điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 23-12-2020
3. Về vật chứng
3.1 Tịch thu tiêu hủy:
- 2,9 gam ma túy loại Heroin; 5,2 gam ma túy loại Methamphetamine và 22,8 gam thuốc phiện được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong dán kín số 3582/C09(TT2) được niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Đinh Thị Thơ, Phạm Thế Duyệt và các dấu hình tròn đỏ của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an.
- 01 con ếch bằng nhựa màu xanh bị rách ở phần chân; 01 hộp màu xanh hình trụ tròn; 01 cục nam châm màu đen hình bán nguyệt; 05 vỏ phong bì đã mở niêm phong; các mảnh nilon, túi nilon, giấy gói; 01 bình thủy tinh bầu dục trắng miệng có nắp đậy hình tròn màu bạc, trên nắp có 01 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 ống thủy tinh màu trắng phần đầu ống được uốn cong và có hình phễu tròn; 01 vỏ túi nilon màu đen được hàn lại và hở một đầu; 10 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền xanh; 01 hộp màu đen có khóa kéo; 01 cân điện tử màu đỏ mặt sau có chữ “made in china”; 01 cân điện tử màu đen kiểu giống chìa khóa của xe ô tô, mặt sau có chữ “OPEN”; 01 chiếc kéo bằng kim loại có cán bằng nhựa màu đen
3.2 Trả lại cho Dương Ngọc L:
- Số tiền 3.100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- 01 điện thoại Samsung màu đen loại màn hình cảm ứng lắp sim số thuê bao: 0365.614.456 và 0984.870.393; 01 điện thoại Nokia màu xanh đen loại bàn phím lắp sim số thuê bao: 0878.263.386 và 0385.115.871; 01 điện thoại Nokia màu đen loại bàn phím lắp sim số: 0818.322.360.
- 01 giấy chứng minh nhân dân số 060777868 mang tên Dương Ngọc L.
(Đặc điểm chi tiết thể hiện theo các biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-4-2021 và ngày 18-5-2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).
4. Về án phí:: Bị cáo Dương Ngọc L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSTP, THATP; CATP ; - Trại tạm giam; - Bị cáo (1); - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hoàng Hải |