vanban.org

Bản án 13/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản”

theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về tội “ Tiêu thụ tài sản Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về tội “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2021/HSST
Ngày: 02/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh T

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Ngọc Song

2. Ông Đỗ Văn Chúc

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh:

Ông Phan Văn Hiếu– Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2021/ HSST ngày 03 tháng 02 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 18/02/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992; Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh;

Nơi cư trú: ấp TTĐ, xã TH, huyện TC, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh 1953; mẹ: Nguyễn Thị N, sinh 1953; Anh chị em ruột: có 06 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1990; vợ: Liên Thục Kiên, sinh 1993 (đã ly hôn); con: có 01 người, sinh năm 2012.

Tiền sự: 02.

+ Ngày 24/3/2020, Nguyễn Thanh T bị công an xã TH, huyện TC, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 24/3/2020, Nguyễn Thanh T bị công an xã TH, huyện TC, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tiền án: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/12/2020 đến ngày 27/12/2020 chuyển tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Huỳnh Thanh P, sinh 1974 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: ấp LK, xã SL, huyện CT, tỉnh TV.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 23/8/2020, bị cáo Nguyễn Thanh T khi đang ở nhà, tọa lạc tại ấp TTĐ, xã TH, huyện TC, tỉnh Trà Vinh thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Lúc này, T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu JINHAO, biển kiểm soát 62F9-5291 đi từ nhà của mình đến khu vực ấp LK, xã SL, huyện CT, tỉnh TV để tìm tài sản lấy trộm. Khi đang điều khiển xe mô tô thì T phát hiện bên trái hướng đi có 01 con gà trống màu vàng bông trắng, có trọng lượng 3,1kg đang nhốt trong bội, không có người trong coi. Bị cáo T dựng xe ngoài lộ rồi đi vào trong sân nhà của bị hại Huỳnh Thanh P; bị cáo đi lại gần và dùng tay dở bội gà lên bắt con gà trống nói trên để vào trong áo sơ mi phía trước bụng rồi điều khiển xe mô tô để chạy về nhà, lúc này P đang phơi lúa phát hiện bị cáo đang ôm con gà của mình nên gọi điện thoại cho N (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) nói là bị mất gà và mô tả đặc điểm của người lấy trộm, N điện thoại cho Lâm Văn P(chồng của P), nói sự việc. Phát điện thoại cho Diệp Tấn L, sinh năm 1983, nơi cư trú ấp Trà Nóc, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh để chặn xe bị cáo lại. Khi bị cáo điều khiển xe khỏi nơi bắt con gà được khoảng 100 mét thì bị L cùng một số người khác chặn xe mô tô do bị cáo T điều khiển và bắt giữ cùng tang vật giao cho Công an xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Tại Cơ quan điều tra thì bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Qua xác minh vào ngày 24/3/2020, bị cáo T bị Công an xã TH, huyện TC, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 08/QĐ-XPHC với hình thức phạt tiền là 1.500.000 đồng, về hành vi vi phạm hành chính: vào ngày 16/3/2020 tại ấp TTT, xã TH, huyện TC, tỉnh Trà Vinh, Nguyễn Thanh T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, vi phạm quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Nguyễn Thanh T nộp tiền phạt vào ngày 27/4/2020.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 15/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh kết luận: 01 (một) con gà trống màu vàng bông trắng, có trọng lượng 3,1kg trị giá 294.500 đồng.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã trao trả: 01con gà trống màu vàng bông trắng, có trọng lượng 3,1kg cho Huỳnh Thanh P. Hiện còn thu giữ: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu JINHAO, biển kiểm soát 62F9-5291, số máy 152FMH-02068321, số khung X6Y-020321; 01 điện thoại di động, loại bàn phím, màu đỏ, hiệu ITEL; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Thái Giản Cường.

Tại cáo trạng số: 09/CT- VKS. HS ngày 31/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay; bị cáo thừa nhận bản cáo trạng xác định hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, không bổ sung gì thêm nội dung bản cáo trạng. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm đoàn tụ gia đình.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T từ 06 tháng đến 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2020.

Về xử lý vật chứng: Vị đề nghị tich thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 62F9-529, số máy 152FMH-02068321, số khung X6Y-020321; và Giao 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Thái Giản Cường cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện Châu Thành xử lý tài sản; Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động, loại bàn phím, màu đỏ, hiệu ITEL;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị hại Huỳnh Thanh P vắng mặt, xét thấy việc bị hại vắng mặt có đơn xin vắng mặt và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên kHội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; Bị cáo nghiện ma túy không có tiền sử dụng nên bị cáo một mình điều khiển xe chạy từ nhà đến sân nhà của Huỳnh Thanh P tọa lạc tại ấp LK, xã SL, huyện CT, tỉnh TV; vào khoảng 12 giờ, ngày 23/8/2020 bị cáo T nhìn thấy 01 con gà trống màu vàng bông trắng, đang nhốt trong bội, không có người trong coi, bị cáo dựng xe ở ngoài lộ rồi đi vòng qua cửa rào đi vào sân nhà của bà P, dùng tay dở bội gà lên, bị cáo bắt con gà trống để vào trong áo sơ mi phía trước bụng rồi ra xe chạy; bị cáo bị phát hiện được nhiều người chặn xe lại và bắt giữ bị cáo giao cho công an xừ lý. Theo kết luận định giá tài sản con gà trống có giá trị 294.500 đồng. Vào ngày 24/3/2020, bị cáo T bị công an xã TH , huyện TC, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa hết thời hạn được coi là “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”.

Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trưởng thành, có sức khỏe tốt mà không lo làm ăn phát triển kinh tế mà còn nghiện ma túy và dẫn đến phạm tội. Bị cáo lợi dụng không có người ở nhà trong coi nên bị cáo cố ý, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp gà để bán nhằm mục đích để có tiền sử dụng ma túy; bị cáo đã bị Công an xã TH, huyện TC xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp; lẽ ra bị cáo phải thấy được việc làm sai trái của mình mà từ bỏ nhưng bị cáo thích thỏa mãn nhu cầu cho bản thân, bản chất tham lam, bất chấp hậu quả xảy ra bị cáo không màng đến. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu của công dân được nhà nước bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết. Xét có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã có hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi sai trái đó có đủ yếu tố để kết luận bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét nhân thân của bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, đã tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ cơ sở trên, để góp phần đấu tranh ngăn ngừa tội phạm; Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát xử cho bị cáo một mức án tương xứng mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo cho việc giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 62F9-5291, số máy 152FMH-02068321, số khung X6Y-020321 và Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Thái Giản Cường để xử lý tài sản; Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động, loại bàn phím, màu đỏ, hiệu ITEL;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qui định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu JINHAO, biển kiểm soát 62F9-5291, số máy 152FMH-02068321, số khung X6Y-020321 và Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành 1 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Thái Giản Cường để xử lý tài sản.

Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động, loại bàn phím, màu đỏ, hiệu ITEL;

3. Về án phí: : Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Trà Vinh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Châu Thành;

- Chi cục THADS huyện Châu Thành;

- Những người tham gia tố tụng;

- Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thanh T TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH Số: /2020/HSST-QĐTG

Châu Thành, ngày 19 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNHTẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thanh T

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thiêm

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.

Tạm giam bị cáo: Dương Minh Kha, sinh ngày 13/10/1997

Tên gọi khác: Không có. Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh

Nơi cư trú: ấp Giồng Lớn, xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Ttàng trử trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Thời hạn tạm giam là: 45 ngày(bốn mươilăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

Điều 2.

Cơ sở giam giữ nhà tạm giữ công an huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh có trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ