- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HS - ST Ngày: 12 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn, ông Phạm Phúc Ân.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2021/TLST- HS ngày 29 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1988 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khởi nơi cư trú, có mặt.
Bị hại: Anh Dương Văn H, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Khu dân cư Đ, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Hải N, sinh năm 1988
Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
2. Anh Mạc Đình D, sinh năm 1986
Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
3. Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/11/2020, anh Nguyễn Hải N có mời một số người bạn đến nhà chị dâu của mình là Đặng Thị A ở khu dân cư N, phường T, thành phố C ăm cơm. Trong đó, có Nguyễn Văn H và anh Dương Văn H1. Khi đến ăn cơm, anh Dương Văn H có để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu xanh, bên trong lắp Sim số 0977005654 trên bàn uống nước trong phòng khách nhà chị A rồi cùng ăn cơm với mọi người. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H đứng dậy đi vệ sinh thì nhìn thấy chiếc điện thoại của anh Dương Văn H. Thấy mọi người không để ý, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại nêu trên của anh Dương Văn H. H đi lại gần bàn uống nước, quay lưng về phía mọi người đang ngồi ăn cơm rồi dùng tay trái lấy chiếc điện thoại sau đó đi ra ngoài sân. Khi ra ngoài sân, H tắt nguồn chiếc điện thoại và giấu ở dưới chồng ngói cạnh bờ tường trong sân nhà chị A. Sau đó, H tiếp tục vào ăn cơm cùng mọi người. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Dương Văn H về trước, ra bàn để lấy điện thoại thì không thấy, nhờ mọi người gọi vào số máy của mình thì không liên lạc được. Sau đó, anh Dương Văn H đi về. Sau khi anh Dương Văn H về thì mọi người có nghi ngờ cho H là người lấy điện thoại của anh Dương Văn H và vận động thì H đã thừa nhận hành vi của mình và đi ra chỗ cất giấu lấy chiếc điện thoại mang vào đưa cho mọi người. Sự việc đã được trình báo với Công an phường Tân Dân, thành phố Chí Linh.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 63/KLGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020, của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Chí Linh kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu xanh, số imei 1L 351088461390254, số imei 2: 351088461390262, tại thời điểm ngày 15/11/2020 có trị giá là 2.600.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 66/KLĐG ngày 09/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Chí Linh kết luận: Chiếm Sim điện thoại Viettel, số thuê bao 0977005654, tại thời điểm ngày 15/11/2020 có trị giá là 50.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 04/CT -VKS - CL ngày 28/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với mình là đúng và xin được cải tạo tại địa phương. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết; về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/11/2020, tại nhà chị Đặng Thị A ở khu dân cư N, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Dương Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4 màu xanh, bên trong có lắp 01 sim Viettel, số thuê bao 0977005654, tổng trị giá 2.650.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 2.650.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật luật hình sự. Ngoài ra, người bị hại là anh Dương Văn H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết. Nhưng, xét bị cáo lần đầu phạm tội do cơ hội, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Nên, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại anh Dương Văn H chiếc điện thoại bị chiếm đoạt. Anh Dương Văn H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/3/2021.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an thành phố Chí Linh; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lâm |