vanban.org

Bản án 13/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 16/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HS-ST
Ngày 16/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông B i Văn Th c

Ông Bùi Thanh Nông

- Thư ký phiên tòa: Bà B i Thị Hư ng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà B i Thanh Lư ng - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 19/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2021/QĐXXST-HS ngày 02/4/2021 đối với bị cáo:

B i Văn Nh (Tên gọi khác: Không c ), sinh ngày 05/6/1990 tại K - Hòa Bình. N i cư trú: Khu N, thị tr n L, huyện K, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học v n): 5/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông B i Văn H (đ chết) và bà Bùi Thị Ph; Gia đình c 06 (sáu) anh chị em, bị cáo là con th sáu trong gia đình; C vợ B i Thị Đ, sinh năm 1999, c 01 con sinh năm 2018;

Tiền án: Không c .

Tiền sự:

- Ngày 25/9/2020 thực hiện hành vi Trộm c p tài sản bị Chủ tịch UBND phường Th, thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 1.500.000đ Một triệu năm trăm ngh n đ ng , đ nộp phạt ngày 12/10/2020;

- Ngày 31/12/2020 Ủy ban nhân dân Thị tr n L tại Quyết định số 02/QĐ-UBND Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại x , phường, thị tr n do x t nghiệm B i Văn Nh dư ng tính với ma túy.

Nhân thân:

- Ngày 04/01/2012 có hành vi đánh bạc, bị công an huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính b ng hình th c phạt tiền, m c phạt là 2.000.000 VNĐ Hai triệu đ ng , đ nộp phạt ngày 05/3/2012;

- Ngày 01/10/2017 c hành vi cố ý gây thư ng tích , bị công an huyện K, tỉnh Hòa Bình khởi tố bị can. C quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đ Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01/2017/HSST-QĐ ngày 30/11/2017 theo yêu c u của bị hại và xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 30/11/2017, đ nộp phạt ngày 01/12/2017;

Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện K t ngày 13/01/2021 đến nay, được trích xu t có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

h i: Quách Thị Ph, sinh năm 1989 (c mặt);

Cư trú tại: Khu Đ, Thị tr n L, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

gư i có qu ền ợi và ngh a v i n quan bà B i Th h (c mặt);

Cư trú tại: Khu N, thị tr n L, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 04/01/2021, chị Quách Thị Ph, sinh năm 1989, trú tại: Khu Đ, Thị tr n L, huyện K, tỉnh Hòa Bình điều khiển xe mô tô nh n hiệu Airblare, biển kiểm soát 28B1-204.36 chở dì là uách Th T, sinh năm 1969 đến nhà bà B i Th h, trú tại: Khu N, thị tr n L, huyện K, tỉnh Hòa Bình để giải quyết việc riêng. Đến n i, chị Ph mở cốp xe mô tô l y trong ví ra 100.000đ Một trăm ngh n đ ng để trả cho bà Phực, số tiền trong ví còn lại khoảng 4.500.000đ n triệu năm trăm ngh n đ ng , sau đ đ ng cốp xe lại rồi vào nhà bà Phực. B i Văn Nh về đến sân nhà, th y xe mô tô của chị Ph dựng ở sân nhà mình, Nh d ng tay trái nh c cốp xe lên th y cốp xe bật mở. Nh nhìn th y trong cốp xe c một chiếc ví da c ng một số đồ đạc cá nhân khác, Nh quan sát xung quanh, lợi dụng trời nhá nhem tối, quan sát không c ai xug quanh nên đ nảy sinh ý định l y trộm tiền trong ví. Nh đ nh c ví lên mở kh a l y tiền trong ví và đ ng cốp xe lại như cũ. Sau khi l y được tiền, Nh đi bộ ra đường quốc lộ 12B, đ n xe bus đi xuống khu vực x m Đồi 2- K- K để mua ma túy của một người phụ nữ mà Nh khai tên là B i Th Thanh T với số tiền là 150.000VNĐ (Một trăm năm mươi ngh n đ ng , rồi tiếp tục đ n xe bus đi lên thành phố Hòa Bình mua ma túy của một người đàn ông lạ mặt, sau đ b t xe đi Hà Nội để xin việc làm và ăn tiêu hết số tiền trộm c p.

Chị Quách Thị Phượng sau khi t nhà bà Phực về kiểm tra phát hiện trong ví chỉ còn 250.000VNĐ (Hai trăm năm mươi ngh n đ ng , bị m t số tiền trong ví 4.200.000VNĐ (B n triệu hai trăm ngh n đ ng , ngày 12/01/2021 đ đến C quan Công an trình báo sự việc bị m t trộm.

B i Văn Nh sau khi đi Hà Nội ăn tiêu hết tiền và chưa kiếm được việc làm, ngày 13/01/2021 đ quay về và đến C quan điều tra Công an huyện K để đ u thú về hành vi trộm c p số tiền 4.200.000VNĐ n triệu hai trăm ngh n đ ng .

Tại Kết luận điều tra số 14/KL-CQĐT ngày 10/3/2021 kết luận: Ngày 04/01/2021 Nh đ l y trộm số tiền 4.200.000VNĐ n triệu hai trăm ngh n đ ng .

Bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 18/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo B i Văn Nh về tội trộm c p tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo th a nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận tội, không kêu oan.

Ý kiến của những ngư i tham gia phi n tòa được Tòa án triệu tập:

- h i uách Th h: Những nội dung bị cáo B i Văn Nh khai tại phiên tòa là đúng. Chị Ph đ được nhận được đủ số tiền 4.200.000VNĐ n triệu hai trăm ngh n đ ng do bị cáo tác động m đ là bà B i Th h trả cho bị hại nên chị không yêu c u bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

- gư i có qu ền ợi ngh a v i n quan đến v án - à i Th h: Bị cáo đ nhờ tôi bồi thường kh c phục hậu quả trả số tiền 4.200.000VNĐ n triệu hai trăm ngh n đ ng cho chị Quách Thị Ph. Bà không yêu c u bị cáo Nh phải trả cho bà. Do vậy không đề nghị tòa án xem x t về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo c nhân thân x u. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không c . Về tình tiết giảm nh : Bị cáo đ u thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại, kh c phục hậu quả; c bố là thư ng binh hạng A; cả bố và m c công với cách cách mạng được tặng huy chư ng kháng chiến chống M . Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn c vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo B i Văn Nh phạm tội trộm c p tài sản, xử phạt bị cáo B i Văn Nh t 6 đến 9 tháng tù.

Về h nh ph t ổ sung Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự Bị hại đ nhận được bồi thường số tiền đ m t. Tại phiên tòa, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu c u bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Các ý kiến tranh luận:

Bị cáo nhận th y đề nghị của Viện kiểm sát là đúng, xin Hội đồng x t

xử m c hình phạt th p nh t vì đ hối cải muốn làm lại cuộc đời.

Bị hại nh t trí với luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị xem x t giảm

hình phạt cho bị cáo. Người c quyền lợi và ngh a vụ liên quan không có ý

kiến tranh luận gì.

Bị cáo n i lời sau c ng: Bị cáo nhận th c về hành vi của mình là sai, sau

này s không tái phạm. Kính mong Hội đồng x t xử cho bị cáo m c hình

phạt th p nh t để bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:

Về t t ng Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không c khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Về căn cứ xác đ nh tội danh, điều uật áp d ng đ i với cáo Tại c quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đ th a nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo ph hợp với lời khai của bị hại, người làm ch ng và các tài liệu, ch ng c khác c trong hồ s vụ án, c đủ c sở kết luận: Khoảng 17 giờ, ngày 04/01/2021, lợi dụng s hở của chủ sở hữu tài sản và điều kiện trời nhá nhem tối, bị cáo B i Văn Nh đ có hành vi trộm c p tài sản là số tiền 4.200.000đ n triệu hai trăm ngh n đ ng của chị Quách Thị Ph. Sau khi l y được tiền bị cáo đ tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đ c u thành tội Trộm c p tài sản. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội trộm c p tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là c căn c , đúng người, đúng tội.

Về tính chất, mức độ hành vi ph m tội, năng ực ch u trách nhiệm h nh sự của cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn x hội. Bị cáo là người c đủ năng lực trách nhiệm hình sự, c nhận th c. Tuy nhiên, bị cáo là người c tiền sự: Ngày 25/9/2020 thực hiện hành vi Trộm c p tài sản bị Chủ tịch UBND phường Th, thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 1.500.000đ Một triệu năm trăm ngh n đ ng , đ nộp phạt ngày 12/10/2020; Ngày 31/12/2020 Ủy ban nhân dân Thị tr n L tại Quyết định số 02/QĐ-UBND Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại x , phường, thị tr n do x t nghiệm B i Văn Nh dư ng tính với ma túy. Không những vậy, bị cáo c nhân thân x u: Ngày 04/01/2012 c hành vi đánh bạc, bị công an huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính b ng hình th c phạt tiền; Ngày 01/10/2017 c hành vi cố ý gây thư ng tích , bị công an huyện K, tỉnh Hòa Bình khởi tố bị can nhưng c quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đ Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01/2017/HSST-QĐ ngày 30/11/2017 theo yêu c u của bị hại và xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 30/11/2017. Do vậy, c n c m c án khiêm kh c, tư ng x ng với hành vi phạm tội mà bị cáo đ gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo t 06 đến 9 tháng tù là đúng với tính ch t m c độ hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm mà bị cáo đ gây ra.

Về các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự đ i với cáo Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không c . Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đ u thú; c bố là thư ng binh hạng A; cả bố và m bị cáo đều được tặng huy chư ng kháng chiến chống M ; tại phiên tòa bị hại đề nghị xem x t giảm nh hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng x t xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về h nh ph t ổ sung Bị cáo là người không c tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng x t xử không áp dụng hình phạt bổ sung b ng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng v án C quan cách sát điều tra công an huyện K, tỉnh Hòa Bình không thu giữ vật ch ng nào nên không xem x t giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự

Số tiền 4.200.000đ ( n triệu hai trăm ngh n đ ng m bị cáo là bà B i Thị Ph đ thay mặt bị cáo bồi thường cho bị hại, tại phiên tòa bị hại không yêu c u bồi thường vì đ nhận đủ số tiền đ m t. M bị cáo cũng không yêu c u bị cáo hoàn lại số tiền trên. Do vậy trách nhiệm dân sự không đề cập giải quyết.

Về các vấn đề khác: Việc B i Văn Nh đi mua ma túy sử dụng, do không điều tra làm r được đối tượng bán ma túy nên không c căn c xử lý trong vụ án này.

Về án phí Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự s thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

UYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo B i Văn Nh phạm tội trộm c p tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo B i Văn Nh 6 (sáu) tháng t , thời hạn t tính t ngày b t để tạm giữ, tạm giam 13/01/2021.

3. Về án phí: Căn c vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự s thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, bị hại, người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án s thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ