- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Hùng - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H (tên gọi khác là Hoàng Văn P) phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HS-ST Ngày 30/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bế Thị Thu Trang
2. Ông Phùng Quốc Doanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Ma Thế Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/HSST ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Hoàng Văn H (tên gọi khác: Hoàng Văn P), sinh ngày 21 tháng 5 năm 1998 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn N, xã Kh, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Th và bà Sằm Thị Nh; Vợ: Triệu Thị S; Con có 02 con (Con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018). Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngặn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân Diệu - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
* Bị hại: Chị Sằm Thị Ph, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nông Thị Chiên - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).
* Người làm chứng: Chị Triệu Thị K, sinh năm 1979. Trú tại: Thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 11/12/2019 Hoàng Văn H đi làm thuê tại thôn N, xã Kh, huyện B, đến khoảng 19 giờ cùng ngày Hoàng Văn đi theo đường liên xã Kh – C để về nhà tại thôn N, xã K, huyện B, trên đường về Hoàng Văn H gặp hai xe mô tô cùng chiều đi trước, đi song song với nhau chiếm hết làn đường không cho xe mô tô của Hoàng Văn H vượt qua, Hoàng Văn H thấy thế bực tức, khi đi đến thôn Kh, xã , huyện B, Hoàng Văn H vượt qua được 02 xe, do vẫn bực tức nên khi đi được khoảng 02 km đến đoạn đường vắng Hoàng Văn H đã dừng xe dựng ngang đường với mục đích để chặn đánh những người điều khiển 02 xe mô tô không cho Hoàng Văn H vượt trước đó, nhưng hai xe này đã lách qua xe của Hoàng Văn H rồi đi thẳng.
Sau khi không chặn được hai xe mô tô trên thì Hoàng Văn H nhìn thấy xe mô tô của chị Sằm Thị Ph đang đi đến, thấy trời tối, đoạn đường vắng, Hoàng Văn H đã nảy sinh ý định chặn xe để đe dọa chiếm đoạt tài sản. Lúc này (khoảng 19 giờ 20 phút) xe mô tô của Hoàng Văn H vẫn dựng ngang đường để chặn đường chị Sằm Thị Ph, đồng thời Hoàng Văn H đứng ở đầu xe giơ hai tay ra để chặn đường, nhìn thấy có người chặn đường ở phía trước nên chị Sằm Thị Ph dừng xe lại, Hoàng Văn H tiến lại phía chị Sằm Thị Ph vừa đi vừa chỉ tay và văng bậy, chửi tục “Đ.. mẹ mày, tao đánh chết mày” nhiều lần, chị Sằm Thị Ph sợ không tắt máy xe và bỏ xe mô tô, Hoàng Văn H thấy chị Sằm Thị Ph đeo túi xách trên người, H nghĩ trong túi có tiền, tài sản liền cầm vào túi xách giật mạnh về phía H, chị Sằm Thị Ph đã dùng tay đẩy dây đeo túi xách qua đầu rồi bỏ chạy đi theo hướng chợ Kh, xã C vừa đi vừa khóc và hô “Cướp, cướp”, Hoàng Văn H cầm lấy túi xách quay lại lấy xe mô tô đi ngược ra đến khu vực cầu treo gần Đ thuộc xã Kh, huyện B thì dừng lại, Hoàng Văn H bật đèn xi nhan xe mô tô, kiểm tra túi xách thấy có 01 giấy đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế và số tiền 60.000 đồng, Hoàng Văn H lấy tiền đút vào túi quần, xé thẻ bảo hiểm y tế, vứt túi xách cùng các giấy tờ xuống chân cầu và đi về, trên đường về Hoàng Văn H bị ngã xe rồi được vợ ra đón về nhà.
Ngày 12/12/2019 chị Triệu Thị K nhặt được túi xách và giấy tờ của chị Sằm Thị Ph nên đã đem về cho chị Sằm Thị Ph và chị Sằm Thị Ph đã làm đơn yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 275/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 09/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Bể kết luận: Một túi xách da màu vàng, kích thước dài 20cm, rộng 15cm có quai đeo dài 01m có giá trị 70.000đ (Bảy mươi nghìn đồng)
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện vào ngày 11/12/2019 tại thôn Kh, xã C, huyện B là chặn đường và đe dọa cướp tài sản của chị Sằm Thị Ph gồm 01 túi xách, bên trong có 01 đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm y tế và số tiền 60.000 đồng. Bị cáo Hoàng Văn H đã bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại với số tiền 9.000.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSBB, ngày 04/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Cướp tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo từ 03 đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
- Về Hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có công việc cụ thể cho nên không có thu nhập ổn định, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng Hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu để hóa giá sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu nâu, không biển kiểm soát, có số khung RLGXA 100D - 5H363693, số máy VDTFS150FMG - I210494 (vỏ mát Fusin Thai Land); Trả lại cho bị cáo 01 túi xách da màu vàng, kích thước dài 20cm, rộng 15cm có quai đeo dài 01m; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Sằm Thị Phin đã bị rách làm đôi tịch thu để tiêu hủy.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
* Người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Về tội danh và về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên, xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo, trình độ nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn thấp. Do đó, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt thấp nhất, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65/BLHS, Nghị quyết số 02/2018 của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo là lao động tự do, không có công việc cụ thể cho nên không có thu nhập ổn định, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng Hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn tiền án phí cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 11/12/2019 tại đoạn đường vắng người đi lại thuộc thôn Kh, xã C, huyện B, Hoàng Văn H đã có hành vi chặn xe mô tô, đe dọa chị Sằm Thị Ph làm cho chị Sằm Thị Ph không thể chống cự được, Hoàng Văn H đã chiếm đoạt 01 túi xách bên trong có 01 đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm y tế và số tiền 60.000 đồng. Kết quả định giá của Cơ quan chức năng kết luận: 01 túi xách có giá trị 70.000 đồng
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn H ®· ph¹m vào téi “Cướp tài sản” quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 168 Bé luËt h×nh sù.
Điều luật có nội dung như sau:
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
…….
6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, x©m ph¹m ®Õn quyÒn së h÷u vµ quyÒn qu¶n lý tµi s¶n cña ng êi kh¸c, g©y mÊt trËt tù trÞ an ë ®Þa ph ¬ng. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo cÇn ph¶i xö lý b»ng ph¸p luËt h×nh sù, nh»m gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho bị hại, do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị hại chị Sằm Thị Ph xin giảm nhẹ cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây hoang mang trên địa bàn dân cư, cho nên hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội, để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về Hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có công việc cụ thể cho nên không có thu nhập ổn định và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương, nên Hội đồng xét xử không áp dụng Hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra có thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu nâu, không biển kiểm soát, có số khung RLGXA 100D
- 5H363693, số máy VDTFS150FMG - I210494 (vỏ mát Fusin Thai Land); 01 túi xách da màu vàng, kích thước dài 20cm, rộng 15cm có quai đeo dài 01m; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Sằm Thị Phin đã bị rách làm đôi. Hội đồng xét xử, xét thấy cần tịch thu để hóa giá sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu nâu, không biển kiểm soát, có số khung RLGXA 100D - 5H363693, số máy VDTFS150FMG - I210494 (vỏ mát Fusin Thai Land) của bị cáo đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội; Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Hoàng Văn H đã bồi thường toàn bộ những thiệt hại do bị cáo gây ra cho bị hại, trong đó có phần tài sản là chiếc túi xách da màu vàng và tại phiên tòa bị hại chị Sằm Thị Phin không có nhu cầu lấy lại chiếc túi xách, do đó trả lại cho bị cáo 01 túi xách da màu vàng, kích thước dài 20cm, rộng 15cm có quai đeo dài 01m; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Sằm Thị Ph đã bị rách làm đôi, tại phiên tòa bị hại chị Sằm Thị Ph không có nhu cầu lấy lại, do vậy cần tịch thu để tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại với người bị hại, tại phiên tòa sơ thẩm, người bị hại không có yêu cầu gì khác, cho nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí Tòa án, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo cho nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
* Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H (tên gọi khác là Hoàng Văn P) phạm tội “Cướp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/ Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS:
+ Tịch thu để hóa giá sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu nâu, không biển kiểm soát, có số khung RLGXA 100D - 5H363693, số máy VDTFS150FMG
- I210494 (vỏ mát Fusin Thai Land).
+ Trả lại bị cáo Hoàng Văn H 01 túi xách da màu vàng, kích thước dài 20cm, rộng 15cm có quai đeo dài 01m.
+ Tịch thu để tiêu hủy 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Sằm Thị Ph đã bị rách làm đôi.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Chi cục Thi hành án dân huyện B với cơ quan Công an huyện B ngày 04/02/2021)
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện Ba Bể; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Công an huyện Ba Bể; - Cơ quan THAHS huyện Ba Bể; - Chi cục THADS huyện Ba Bể; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo, Ng bị hại, NBCCBC - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thế Hùng |