vanban.org

Bản án 13/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/01/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn H.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 123/2020/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh. Giao bị cáo Ngô Văn H về Ủy ban nhân dân xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hiền - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HS-PT
Ngày: 27-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Thẩm phán:

+ Bà Phạm Thị Hồng Vân;

+ Ông Phạm Văn Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phúc, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 190/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo Ngô Văn H; Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 123/2020/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo kháng cáo: Ngô Văn H, sinh năm: 1987, tại tỉnh T; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm A, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi tạm trú: Ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn V và bà Ngô Thị H; Vợ: Đỗ Thị Xuân Q; Con có 02 người; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3 năm 2020, do muốn có giấy phép lái xe hạng E để lái xe ôtô thuê cho người khác đưa rước công nhân và xuất trình khi lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra nên bị cáo Ngô Văn H đã lên trạng mạng Facebook liên lạc với người nam không rõ lý lịch hỏi mua giấy phép lái xe hạng E giả và giấy chứng minh nhân dân giả với giá 4.500.000 đồng và bị cáo chụp ảnh gửi qua. Khoảng 07 ngày sau, bị cáo đến Bến xe Miền Đông, Thành phố Hồ Chí Minh nhận 01 giấy phép lái xe hạng E số xxxxxxxxxxxx do Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16-11-2018 và 01 căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an cấp ngày 07-8-2018 có ảnh của bị cáo, đều mang tên Vũ Minh M, sinh ngày 10-02-1987, ngụ khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, rồi bị cáo giao cho người này số tiền 4.500.000 đồng.

Ngày 28-3-2020, bị cáo sử dụng giấy phép lái xe giả hạng E để lái xe ôtô thuê đưa rước công nhân cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hồng D, có trụ sở tại xã Long Thành N, thị xã H, tỉnh Tây Ninh với mức lương 8.500.000 đồng/tháng.

Khoảng 09 giờ 53 phút ngày 30-5-2020, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp với Công an huyện G tiến hành kiểm tra xe đưa rước công nhân biển số 60B-047.48 do bị cáo điều khiển trên tỉnh lộ 782 đoạn thuộc ấp Phước Đức A, xã Phước Đông, huyện G. Qua kiểm tra, lực lượng cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ các giấy tờ nêu trên để làm rõ. Ngày 01-6-2020 Công an huyện G chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G xử lý theo quy định pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 875 ngày 15-6-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Giấy phép lái xe hạng E số xxxxxxxxxxxx mang tên Vũ Minh M, sinh ngày 10-02-1987, ngụ khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16-11-2018 là giấy phép lái xe giả.

Tại Kết luận giám định bổ sung số 992 ngày 10-7-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an cấp ngày 07-8-2018, mang tên Vũ Minh M, sinh ngày 10-02-1987, ngụ khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là căn cước công dân giả.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) giấy phép lái xe hạng E số xxxxxxxxxxxx mang tên Vũ Minh M (ảnh của bị cáo Ngô Văn H) là giấy phép lái xe giả; 01 (một) căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx mang tên Vũ Minh M (ảnh của bị cáo Ngô Văn H) là căn cước công dân giả, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G chờ xử lý.

Về kê biên tài sản: Do bị cáo không có tài sản nên Cơ quan điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh không kê biên.

Bản án Hình sự sơ thẩm số: 123/2020/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh, Quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí; quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020, bị cáo H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, chuyển hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Văn H xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Văn H:

2.1. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ 53 phút ngày 30-5-2020 tại ấp A, xã P, huyện G, bị cáo có hành vi sử dụng giấy phép lái xe ôtô giả với mục đích để lái xe thuê và xuất trình khi bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra thì bị phát hiện. Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo H đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

2.2. Bản án Hình sự sơ thẩm số: 123/2020/HS-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh xét xử bị cáo Ngô Văn H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan Nhà nước nên phải xử lý để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội là phù hợp.

Xét kháng cáo của bị cáo H thấy rằng:

Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 06 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có địa chỉ rõ ràng nên việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn việc khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo H không phải chịu do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn H.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 123/2020/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn thi hành án tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Ngô Văn H về Ủy ban nhân dân xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo H.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo H không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ