vanban.org

Bản án 13/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 29/01/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HS-PT
Ngày : 29-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thường

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở TAND tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 139/2020/TLPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2020/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn H (X), sinh năm 1991 tại Bình Định; nơi cư trú: Tổ 48, Khu vực 9A, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1957; vợ: Võ Thị Kim A, sinh năm 1984, con: Có 02 người, lớn nhất 06 tuổi, nhỏ nhất 03 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/01/2008, bị UBND phường Đống Đa, thành phố Q áp dụng biện pháp giáo dục tại phường; Ngày 12/8/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 15/10/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h30 ngày 31/5/2020, Nguyễn Văn H cùng Lê Thị Bích L đến nhà nghỉ H tại số 321 Đ, thành phố Q thuê phòng 102 để nghỉ. Do cần tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định tìm tài sản trong các phòng khách nghỉ khác để trộm. Khoảng 1h30 ngày 01/6/2020, H đi xuống tầng trệt ý định tắt đèn hành lang của nhà nghỉ để dễ thực hiện hành vi trộm cắp nhưng thấy ông Huỳnh Tấn Đ nhân viên lễ tân còn thức nên H quay về phòng mình. Đến khoảng 02 h 55 cùng ngày, H tiếp tục xuống tầng trệt, thấy ông Đ đã ngủ nên H tắt đèn ở hành lang của tầng 2. Sau đó, H lên tầng 2 thì thấy cửa phòng 204 đóng không kín nên mở cửa lẻn vào trong lấy trộm 01 ví da của anh Trần Thanh V mang ra ngoài lục lấy 1.000.000 đồng rồi ném lại ví xuống gầm giường. Sau đó, H tiếp tục vào phòng 204 lấy trộm 01 điện thoại di dộng hiệu VivoY15, bên trong ốp lưng điện thoại có cất số tiền 1.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hậu. Sau khi lấy được tài sản, H bỏ đi đến cây xăng trên đường Đ, thành phố Q rồi gọi điện thoại cho Ly đến chở đi công việc. Khoảng 05h00 cùng ngày, vợ chồng chị H, anh V ngủ dậy phát hiện tài sản bị mất nên báo Công an phường T, TP. Q. Qua xác minh, làm việc H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp nêu trên của mình.

Ngày 24/6/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: Điện thoại di động hiệu Vivo Y15 trị giá 2.200.000đ.

Cơ quan CSĐT - Công an TP. Q đã tạm giữ sau đó trả lại điện thoại di động hiệu Vivo Y15 và số tiền 730.000 đồng cho chị Nguyễn Thị H. Nguyễn Văn H đã bồi thường số tiền 1.770.000đ cho chị Nguyễn Thị H và anh Trần Thanh V. Vợ chồng chị H, anh V không yêu cầu gì thêm.

Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2020/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 20 tháng 11 năm 2020, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 01/6/2020, trong lúc thuê trọ tại nhà nghỉ Hoàng Kim 2 thuộc phường Đống Đa, thành phố Q, do cần tìm tiêu xài nên Nguyễn Văn H đã lợi dụng sơ hở của khách thuê trong nhà nghỉ đã lén lút lấy trộm 1.000.000 đồng của anh Trần Thanh V và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y15 (bên trong ốp lưng có 1.500.000 đồng) của chị Nguyễn Thị H. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.700.000 đồng. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 122/2020/HS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng hai lần chịu sự trừng phạt của pháp luật về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện, áp dụng đầy đủ các tình tiết và xử phạt bị cáo 15 tháng tù là phù hợp, tương xứng với nhân thân và hành vi của bị cáo, đủ tác dụng răn đe và giáo dục, phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Theo điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác về án phí, quyền kháng cáo của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ