- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H ly hôn anh Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HNGĐ-ST Ngày: 12-01-2021 V/v: Ly hôn giữa chị H và anh Q |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Bà Nguyễn Thị Kim Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 512/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: L, phường L, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm M, thôn P, xã N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1967; Nơi cư trú: L, phường L, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Đình Q vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 20-10-2020, bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 25-9-1994 tại Ủy ban nhân dân xã L, (nay là phường L), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Năm 2007 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng ly thân từ thời gian đó đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể giải quyết nên đề nghị giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Đình Q.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thị Hải A, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1996. Cả hai con đều đã trưởng thành, lao động tự lập được nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 14 tháng 12 năm 2020 chị H trình bày: Do công việc cá nhân của chị bận không đến Tòa án tham gia phiên tòa được, vì vậy chị xin được vắng mặt tại phiên tòa và giữ nguyên quan điểm trong bản tự khai, không có đề nghị gì khác.
Bị đơn là anh Nguyễn Đình Q đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm bản tự khai và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa anh Q vẫn vắng mặt. Do đó, anh Q không có quan điểm giải quyết vụ án.
Biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 03-11-2020 chính quyền địa phương nơi chị H và anh Q sinh sống cung cấp: Vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình Q cư trú tại tổ dân phố số 11 L, phường L, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Chị H đã đưa con bỏ đi nơi khác sinh sống. Anh Q hiện đang chung sống với người phụ nữ khác. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thị Hải A, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1996.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định căn cứ vào Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình Q đã trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử ly hôn giữa chị H và anh Q.
Về con chung: Các con chung đều đã trưởng thành, lao động tự lập được nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Đình Q đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H và anh Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25-9-1994 tại Ủy ban nhân dân xã L (nay là phường L), thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình Q phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn chung sống. Đối với anh Q, Tòa án đã triệu tập nhưng anh Q không đến tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tại phiên tòa anh Q vắng mặt không có lý do thể hiện việc anh Q không có thiện chí hòa giải, giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng, chị H giữ nguyên quan điểm giải quyết ly hôn với anh Q. Xét mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình Q theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình Q có hai con chung là Nguyễn Thị Hải A, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1996. Các con chung đều đã trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được nên chị H không đề nghị giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Đình Q.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai thu tiền số 0003272 ngày 20 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
3. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Đình Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - UBND P. L, TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |