- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thanh T về việc “Ly hôn”
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2021/HNGĐ-ST Ngày: 31/3/2021 Vụ án:“ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Đê
Bà Lê Thị Quỳnh Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký TAND thành phố Bà Rịa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải– Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số 330/2020/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2020, về việc “Ly hôn-Tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 24/02/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST-HPT ngày 12/3/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1980 (có mặt)
HKTT: Tổ 13, Ô 2, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Nơi cư trú: Tổ 4, khu phố 1, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 (vắng mặt)
HKTT: Tổ 13, Ô2, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Nơi cư trú: Tổ 23, ấp T, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2020 và quá trình tố tụng tại Tòa, bà Bùi Thị Thanh T trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, không đăng ký kết hôn. Đến năm 2004 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do ông T thường xuyên nhậu nhẹt về la mắng vợ con vô cớ. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Thời gian sống ly thân cũng không còn ai quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho ai nữa cả. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà làm đơn yêu cầu:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T
- Về con chung: Bà và ông T có 03 con chung tên là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 22/10/1997; Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/9/2001 và Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 27/5/2007; Cháu M và cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu tòa giải quyết. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu V và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu V.
- Tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết
[2] Bị đơn, ông Nguyễn Văn T đã được Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác yêu cầu ông T đến Tòa để làm việc nhưng ông T không có mặt nên không có ý kiến
[3] Theo xác minh tại địa phương thì vợ chồng bà Bùi Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn T sau khi kết hôn có sống tại địa chỉ ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Việc mâu thuẫn của Bà T và ông T thì địa phương không biết cụ thể nhưng Bà T và ông T đã sống ly thân, thời gian sống ly thân cũng không còn ai qua lại, chăm sóc cho ai nữa cả.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa:
[4.1] Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
- Về thẩm quyền thụ lý: Đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 35, 39 BLTTDS;
- Về xác định tư cách những người tham gia tố tụng: Thực hiện đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS;
- Về xác minh, thu thập chứng cứ: Tòa đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về tiến hành lấy lời khai của đương sự, tiến hành hòa giải và các thủ tục khác theo đúng quy định BLTTDS;
- Về trình tự thụ lý: Tòa thụ lý đúng theo quy định tại Điều 195,196 BLTTDS;
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án giải quyết đúng theo quy định tại Điều 203 BLTTDS;
- Việc tuân theo pháp luật của HĐXX và Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân thủ đúng quy định của BLTTDS về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng
[3.2] Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, cho rằng yêu cầu của phía nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về Tố tụng:
Bà Bùi Thị Thanh T có đơn khởi kiện “Yêu cầu ly hôn” với ông Nguyễn Văn T, ông T có nơi cư trú tại địa chỉ Tổ 23, ấp T, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 3 Điều 36; khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền.
Ông Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nhưng ông T vắng mặt nhiều lần không có lý do nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung: Bà T, ông T có đăng ký kết hôn vào ngày 10/9/2004, tại UBND xã H, Tp B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn do Bà T xuất trình nên hôn nhân của Bà T, ông T là hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của Bà T, ông T là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật.
Theo Bà T thì thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dân đến mâu thuẫn vợ chồng theo Bà T là do ông T hay nhậu nhẹt về chửi bới bà và các con. Hai vợ chồng bà cũng đã sống ly thân, thời gian ly thân cũng không còn ai quan tâm, lo lắng hay chăm sóc cho ai nữa cả. Nay Bà T xác nhận không còn tình cảm gì với ông T nữa nên yêu cầu ly hôn.
Lời khai của Bà T phù hợp với xác minh của Tòa, do đó có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn giữa Bà T và ông T là có thật, sự mâu thuẫn tình cảm giữa Bà T và ông T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng cũng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Thời gian sống ly thân cũng không ai còn quan tâm, chăm sóc cho ai nữa cả nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà T.
Về con chung: Bà T và ông T có có 03 con chung tên là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 22/10/1997; Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/9/2001 và Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 27/5/2007; Cháu M và cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa giải quyết. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu V và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu V.
Xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng đều nhằm mục đích cho các con phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần; Cháu V hiện còn nhỏ tuổi, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, hơn nữa cháu V cũng có nguyện vọng được ở với Bà T nên giao cho cháu V cho Bà T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu V nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu và ông T cũng không đến Tòa làm việc và có ý kiến nên HĐXX không xem xét.
Án phí HNST: Bà T phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 BLTTDS
- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thanh T về việc “Ly hôn”
- Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T
- Về con chung: Bà Bùi Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn T 03 con chung tên là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 22/10/1997; Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/9/2001 và Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 27/5/2007; Cháu M và cháu T đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét;
Giao cháu Nguyễn Thị Tường V cho bà Bùi Thị Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng; Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu V nên HĐXX không xem xét
Ông Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, trên cơ sở yêu cầu của một hoặc hai bên đương sự hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí HNST: Bà Bùi Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số TU/2020/0002909 ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án thành phố Bà Rịa, Bà T đã nộp xong án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR- VT; - VKSND TP. Bà Rịa; - THA Dân sự TP Bà Rịa; - UBND xã H - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Mai |