- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Mạnh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn anh Nguyễn Mạnh T (tên gọi khác Nguyễn Văn D).
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/HNGĐ-ST Ngày 27-4-2021 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa và bà Phạm Thị Hợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2020/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2021 giữa các đƣơng sự;
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979;
ĐKHKTT: thôn N, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh T (tên gọi khác Nguyễn Văn D), sinh năm 1981;
ĐKHKTT: thôn N, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959
Trú quán: thôn Q, xã H, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dƣơng.
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1960;
Trú tại: thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
Chị H có mặt; anh T, bà G, bà C đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Manh T (tên gọi khác Nguyễn Văn D) kết hôn với nhau trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là UBND xã Đ) ngày 03/7/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đƣợc một thời gian khoảng 02 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt cũng nhƣ làm ăn phát triển kinh tế gia đình; anh T (tức D) không tu chí làm ăn, không quan tâm gì đến vợ con, từ đó mà vợ chồng liên tục xẩy ra mâu thuẫn, cãi vã, to tiếng. Do điều kiện kinh tế khó khăn, nên cuối năm 2010, chị đi xuất khẩu lao động vừa để lo kinh tế gia đình và xem anh T có thay đổi không. Tuy nhiên, sau khi chị đi đƣợc một thời gian thì anh T ở nhà chơi bời, nợ nần nhiều, có nhiều ngƣời đến đòi nợ dẫn đến anh T phải để lại con cho bố mẹ chị nuôi dƣỡng đi làm tự do nay đây mai đó, không dám về nhà. Năm 2019, chị về nƣớc, chị có tìm hiểu và liên lạc qua điện thoại để nói chuyện với anh T để giải quyết việc gia đình nhƣng anh T nói đang làm ăn xa, không về giải quyết việc ly hôn cũng nhƣ không cho chị địa chỉ nơi anh T sinh sống, làm việc. Tết nguyên đán năm 2019, anh T có về nhà nhƣng không dám vào trong nhà, vì sợ có ngƣời đến đòi nợ, có con trai chị nhìn thấy, sau đó anh T đi luôn, con trai chị thƣờng xuyên gọi điện hỏi bố đang ở đâu, anh T nói đang làm ở Hà Nội, lúc nói đang làm ở TP Hải Dƣơng nhƣng không nói địa chỉ cụ thể. Nay chị xác định vợ chồng xa cách nhiều năm, tình cảm lạnh nhạt không còn, không có khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 08/3/2004 hiện đang ở cùng với chị. Chị xin nuôi dƣỡng con chung Nguyễn Mạnh H và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Hiện chị làm lao động tự do, thu nhập trung bình hàng tháng từ 5 đến 6 triệu đồng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T, do anh T không có mặt ở nhà, do mâu thuẫn gia đình nên những ngƣời thân của anh T đều xác định không thể thông báo đƣợc cho anh T, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhƣng anh T không đến Tòa án làm việc và cũng không có bất cứ ý kiến nào bằng văn bản gửi cho Tòa án. Kết quả làm việc với bà Nguyễn Thị C (là mẹ đẻ anh T) cung cấp: Trƣớc đây bà kết hôn với ông Nguyễn Xuân M và sinh đƣợc anh Nguyễn Văn D (sau này cải chính hộ tịch là Nguyễn Manh T), do bà và ông M không hợp nhau nên đã ly hôn, anh T ở cùng với ông M đến khi trƣởng thành còn bà đi bƣớc nữa và lấy chồng ở xã H. Năm 2003, anh T kết hôn với chị H. Sau khi kết hôn, anh T về quê nhà chị H sinh sống, vợ chồng hạnh phúc đƣợc vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt cũng nhƣ làm ăn phát triển kinh tế gia đình, anh T mải chơi đua đòi dẫn đến nợ nần nhiều, nhiều ngƣời đến đòi nợ gây áp lực nên anh T không dám ở nhà mà bỏ đi làm ăn, nay đây mai đó, không có địa chỉ cố định. Sau khi chị H về nƣớc không thấy vợ chồng đoàn tụ, bà có nghe nói tết nguyên đán năm 2019, anh T có về nhà nhƣng sợ bị đòi nợ không dám vào nhà. Anh T vẫn dùng số điện thoại di động, qua mạng xã hội bà đã nhiều lần điện thoại cho anh T, nhƣng do mẹ con không hợp nhau nên anh T không nghe máy. Vợ chồng có một con chung nhƣ chị H đã trình bày là đúng, hiện con chung đang ở cùng với chị H. Nay, chị H có đơn xin ly hôn anh T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Kết quả làm việc với bà Nguyễn Thị G (vợ ông M và là mẹ kế của anh T) đƣợc cung cấp: Trƣớc đây, ông M, bà C là vợ chồng và sinh đƣợc anh Nguyễn Văn D (tức Nguyễn Manh T), do ông M, bà C không hợp nhau nên đã ly hôn từ lúc anh T còn bé, sau đó bà kết hôn với ông M nên anh T ở với ông bà, do anh T bỏ học sớm đi làm tự do, đã gặp và kết hôn với chị Nguyễn Thị H năm 2003, cũng từ đó anh T về ở quê nhà chị H ở xã Đ, Tứ Kỳ sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau, trong thời gian chị H đi lao động ở nƣớc ngoài, anh T ở nhà chơi bời dẫn đến nợ nần nhiều, không dám ở nhà mà bỏ đi làm ăn xa, do mâu thuẫn với ông M nên anh T không về nhà, không nói cho ông bà biết anh T đang ở đâu, làm gì.
- Lời khai của cháu Nguyễn Mạnh H xác định tết nguyên đán năm 2019, có nhìn thấy anh T về nhƣng không dám vào nhà, cháu thƣờng xuyên điện thoại để hỏi bố đang ở đâu nhƣng bô cháu nói lúc đang ở Hải Dƣơng, lúc đang ở Hà Nội và không cho cháu biết địa chỉ cụ thể, trƣờng hợp bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ.
- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã Đ và các đoàn thể và chính quyền thôn N, xã Đ đều cung cấp: chị H anh T đƣợc tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại địa phƣơng, quá trình chung sống vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn gì không thì địa phƣơng không nắm rõ. Chỉ biết sau khi chị H đi lao động ở nƣớc ngoài thì anh T ở nhà nuôi con, sau đó đi làm ăn xa, nay đây mai đó ít khi về, chỉ thỉnh thoảng điện thoại về hỏi thăm con chung, năm 2019 chị H về nƣớc nhƣng vợ chồng không về đoàn tụ. Hiện anh T vẫn có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại địa phƣơng, chƣa cắt, chuyển khẩu đi nơi khác, còn anh T làm gì, ở đâu thì địa phƣơng không nắm đƣợc. Nay, chị H xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết về con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xem xét giao cháu H cho chị H nuôi dƣỡng, vì anh T không có mặt ở nhà.
- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã H, huyện Ninh Giang và chính quyền thôn Q đều đƣợc cung cấp: Anh Nguyễn Manh T lúc nhỏ có tên gọi khác Nguyễn Văn D, là con đẻ của ông Nguyễn Xuân M và bà Nguyễn Thị C. Sau khi bố mẹ ly hôn, anh D ở cùng với ông M và có tên trong hộ khẩu gia đình ông M, sau đó gia đình cải chính hộ tịch lấy tên Nguyễn Manh T, sinh năm 1981. Sau khi kết hôn với chị Nguyễn Thị H, anh T đã chuyển khẩu về xã Đ (nay là xã Đ), huyện Tứ Kỳ nên địa phƣơng đã gạch tên anh T (tức D) trong sổ hộ khẩu gia đình năm 2009. Mặc dù có hai tên nhƣng đều là một ngƣời và là con đẻ của ông M, bà C và là chồng của chị Nguyễn Thị H. Từ ngày anh T kết hôn với chị H và chuyển khẩu về xã Đ, huyện Tứ Kỳ sinh sống, anh T gần nhƣ không về địa phƣơng, hiện anh T ở đâu, làm gì địa phƣơng không nắm đƣợc.
Cục quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an xác nhận anh Nguyễn Manh T không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh.
Tại phiên toà, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn anh Nguyễn Manh T (tức Nguyễn Văn D); Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H đƣợc nuôi dƣỡng, chăm sóc con chung Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 08/3/2004 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai đƣợc cản trở. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Manh T (tức Nguyễn Văn D) đƣợc Toà án triệu tập đến tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt anh T.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Manh T kết hôn trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là UBND xã Đ), huyện Tứ Kỳ ngày 03/7/2003 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc, hoà thuận đƣợc khoảng vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, vợ chồng bất đồng quan điểm. Theo chị H trình bày, do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt cũng nhƣ làm ăn phát triển kinh tế gia đình, từ đó mà vợ chồng thƣờng xuyên xẩy ra xô xát, cãi vã. Trong thời gian chị đi lao động ở nƣớc ngoài, anh T ở nhà không tu chí làm ăn, chơi bời dẫn đến nợ nần nhiều ngƣời, phải để con cho bố mẹ chị nuôi đi làm tự do. Sau khi ở nƣớc ngoài về hẳn, chị có tìm gặp, liên lạc nhƣng anh T không cho chị biết địa chỉ nơi sinh sống, làm việc, vợ chồng ly thân nhiều năm nay, tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt, xa cách, không còn quan tâm đến nhau. Căn cứ vào các tài liệu Toà án thu thập đƣợc xác định anh T hiện vẫn đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại thôn N, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, hiện đi làm ăn tự do, vẫn liên lạc về với gia đình, lần gần nhất anh T có gọi điện cho con trai Nguyễn Mạnh H là ngày 14/12/2020 để hỏi thăm tình hình học tập của con, chị đã quay video đƣợc cuộc nói chuyện giữa cháu và anh T. Chị H đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn tại thời điểm khởi kiện và đã đƣợc UBND xã Đ xác nhận đƣợc coi là đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên khi anh T đi làm ăn nơi khác gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nhƣng không thông báo cho chị H biết về nơi cƣ trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự đƣợc coi là cố tình giấu địa chỉ, gây khó khăn cho chị H trong việc ly hôn. Từ khi Toà án thụ lý vụ án đến nay, anh T cũng không về Toà án để làm việc, tham gia hoà giải theo các văn bản đã đƣợc Toà án niêm yết, chị H vẫn cƣơng quyết ly hôn. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị H đƣợc ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 08/3/2004 đang ở với mẹ, chị đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị H thấy rằng: Hiện cháu H đã trên 17 tuổi, khỏe mạnh và phát triển bình thƣờng về trí lực và có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ. Chị H hiện làm lao động tự do, có thu nhập trung bình từ 5 đến 6 triệu đồng/tháng, thuộc trƣờng hợp đủ điều kiện nuôi con. Anh T đã đƣợc triệu tập nhiều lần nhƣng không đến Toà án để làm việc, quan điểm của UBND xã Đ và đại diện lao động thƣơng binh xã hội xã Đ có quan điểm do anh T không có mặt tại địa phƣơng nên đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H nuôi dƣỡng. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển của con chung, cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Mạnh H cho chị H nuôi dƣỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn anh Nguyễn Mạnh T (tên gọi khác Nguyễn Văn D).
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 08/3/2004 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, theo biên lai số AA/2017/0009956 ngày 05/11/2020.
4. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THA dân sự huyện Tứ Kỳ; - UBND xã Đ, huyện Tứ Kỳ; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VP; ỘI THẨM NHÂN DÂN THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Chu Quang Liêm Nguyễn Thị Ngọc Hoa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quân THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quân |