vanban.org

Bản án 13/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

266 Bộ luật tố tụng dân sự.

131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 266 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 16/03/2021

HUYỆN ĐỊNH QUÁN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Kha Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Mẫn Ông Dương Văn Hạnh -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hội- Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở TAND huyện Định Quán, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 423/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự: -Nguyên đơn: Bà Cao Thị H- sinh năm 1972,“vắng mặt” HKTT: ấp 4, xã La Ngà, huyện Định Quán, Đồng Nai -Bị đơn: Ông Nguyễn Th- sinh năm 1971,“vắng mặt” HKTT: ấp 4, xã La Ngà, huyện Định Quán, Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoa và ông Thành đã tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã La Ngà và đã được

cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/9/2003. Trong thời gian chung sống đã phát sinh mâu thuẫn không còn hòa hợp. Nay tình cảm vợ chồng đã hoàn toàn phai nhạt nên bà xin được ly hôn với ông Thành. Về con chung: Bà Hoa và ông Thành có 02 con chung trong đó có 01 con chung là Nguyễn Thành Đạt- sinh ngày 20/02/1996 đã thành niên, phát triển bình thường và có khả năng lao động nên bà Hoa không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Còn lại 01 con chung chưa thành niên là Nguyễn Đức Trung- sinh ngày 20/11/2006 bà Hoa yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu ông Thành cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có. Ngoài ra bà Hoa đề nghị Tòa án giải quyết vụ án ly hôn vắng mặt trong các buổi làm việc, các phiên họp và hòa giải cũng như xét xử. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày. Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng về xác định quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu theo thẩm quyền, thủ tục gửi, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng tất cả đều đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các phần của phiên tòa sơ thẩm, phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, phần tranh tụng tại phiên tòa. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân của bà Hoa ông Thành là hợp pháp. Vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, đời sống chung đã chấm dứt. Căn cứ Luật Hôn nhân gia đình thì mục đích hôn nhân của vợ chồng đã không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoa, cho bà Hoa được ly hôn với ông Thành. Về con chung: Bà Hoa và ông Thành có 02 con chung trong đó có 01 con chung là Nguyễn Thành Đạt- sinh ngày 20/02/1996 đã thành niên, phát triển bình thường và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. Còn lại 01 con chung chưa thành niên là Nguyễn Đức Trung- sinh ngày 20/11/2006 giao cho bà Hoa trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn và tạm thời miễn cho ông Thành cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Về án phí:

Bà Hoa phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Những kiến nghị khắc phục sai sót ở cấp sơ thẩm là không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Hoa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn ông Thành đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. [2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Hoa và ông Nguyễn Thành tự nguyện chung sống và kết hôn với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã La Ngà và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/9/2003. Như vậy hôn nhân của bà Hoa ông Thành được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Qua các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thể hiện vợ chồng bà Hoa ông Thành đã có nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, gia đình mất đi hạnh phúc nguyên nhân là do không hòa hợp trong tính tình cách sống và đã sống ly thân. Căn cứ Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, xét thấy bà Hoa ông Thành không còn sống chung với nhau, đời sống chung vợ chồng đã chấm dứt, vợ chồng không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Hoa vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Ông Thành vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ cho các đương sự được. Vì vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoa. Cho bà Hoa được ly hôn với ông Thành. [3] Về con chung: Bà Cao Thị Hoa và ông Nguyễn Thành có 02 con chung trong đó có 01 con chung là Nguyễn Thành Đạt- sinh ngày 20/02/1996 đã thành niên, phát triển bình thường và có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét giải quyết. Còn lại 01 con chung chưa thành niên là Nguyễn Đức Trung- sinh ngày 20/11/2006 bà Hoa yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu ông Thành cấp dưỡng nuôi con. Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Việc giao con chung chưa thành niên cho một bên trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con. Xét thấy con chung chưa thành niên hiện đang được bà Hoa chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt, cuộc sống đang ổn định dù vợ chồng đã sống ly thân. Xét yêu cầu của bà Hoa là hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của các bên. Vì vậy, giao con chung là Nguyễn Đức Trung- sinh ngày 20/11/2006 cho bà Hoa trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn. Bà Hoa không yêu cầu ông Thành cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời

miễn cho ông Thành nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Thành có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, bà Hoa ông Thành có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. [4] Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết. [5] Về nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết. [6] Về án phí: Bà Hoa phải chịu 300.000 đồng án phí DSST về ly hôn. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 28; Điều 68; Điều 146, 147; điểm b, khoản 2, Điều 227, khoản 1, Điều 228; Điều 220, 266 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 85, 89, 91, 92, 94 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử: 1)- Về hôn nhân: Cho bà Cao Thị Hoa được ly hôn với ông Nguyễn Thành. 2)- Về con chung: Bà Cao Thị Hoa và ông Nguyễn Thành có 02 con chung trong đó có 01 con chung là Nguyễn Thành Đạt- sinh ngày 20/02/1996 đã thành niên, phát triển bình thường và có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét giải quyết. Còn lại 01 con chung chưa thành niên là Nguyễn Đức Trung- sinh ngày 20/11/2006 giao cho bà Hoa trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn. Bà Hoa không yêu cầu ông Thành cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời miễn cho ông Thành nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Thành có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, bà Hoa ông Thành có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. 3)- Về tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết. 4)- Về nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết. 5)- Về án phí: Bà Cao Thị Hoa phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Hoa đã nộp ngày 21/10/2020 theo biên lai số 0005409 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí. Bà Hoa đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ