vanban.org

Bản án 13/2021/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 27/12/2021 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Phạm Trung Th phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh Th đã nộp 300.000đồng (ba tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kim Ph - Phạm Trung Th"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2021/HNGĐ-PT
Ngày 27 - 12 - 2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Sâm

Các Thẩm phán: Ông Đinh Huy Lưỡng

Bà Nguyễn Thị Ph

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Len - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Minh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2021/TLPT- HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2021/QĐPT-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/QĐ-PT ngày 10 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim Ph, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Số nhà 31, ngõ 191, đường PVĐ, tổ dân phố C, phường XĐ, quận BTL, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Phạm Trung Th, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Xóm 10, xã YM, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

3. Người kháng cáo: Anh Phạm Trung Th, là bị đơn.

Các đương sự: Chị Ph, anh Th có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 3 năm 2021, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Kim Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ph kết hôn với anh Phạm Trung Th trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã YM, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 20/12/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại quận Từ Liêm, thành phố Hà Nội, đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Th không chăm lo cho gia đình, thường xuyên say rượu, đánh đập, chửi mắng chị Ph, không tôn trọng bố mẹ chị Ph. Đến tháng 7 năm 2019 vợ chồng chuyển về sinh sống tại ngã ba L, xã YP, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, nhưng anh Th vẫn thường xuyên ghen tuông đánh đập chị Th, đỉnh điểm là đêm ngày 11/02/2020 khi vợ chồng sang nhà hàng xóm ăn cơm, anh Th uống nhiều rượu, say xỉn, nên chị Ph có khuyên ngăn để anh Th không uống rượu, khi về nhà thì anh Th đánh đập chị Ph, hàng xóm đến can ngăn, anh Th đe dọa “ai mà dám vào can là sẽ giết chết”. Đến ngày hôm sau 12/02/2020 anh Th tiếp tục ghen tuông đã tát và đấm nhiều cái vào mặt và đầu chị Ph, mặc dù chị Ph đã van xin nhưng anh Th vẫn đánh chị Ph và mở to nhạc để mọi người không nghe được tiếng chị Ph kêu cứu, chị Ph đã dùng kéo để cắt dây loa, hàng xóm nghe tiếng chị Ph kêu cứu đã sang lau vết thương cho chị Ph và gọi điện cho bố mẹ chị Ph. Do lo lắng cho sức khỏe và tính mạng của mẹ con chị Ph, nên bố mẹ đẻ đã đến đón đưa chị Ph và con về nhà bố mẹ đẻ tại thành phố Hà Nội. Ngay trong đêm ngày 12/02/2020 chị Ph đã đi khám tại bệnh viện NTL, Hà Nội. Ngày 05/8/2020 chị Ph làm đơn tố cáo anh Th gây thương tích cho chị Ph, Công an xã YP, huyện Y đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với anh Th về hành vi đánh gây thương tích cho chị Ph. Nay chị Ph xác định tình cảm vợ chồng giữa chị Ph và anh Th không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể chung sống với nhau được, chị Ph đề nghị Tòa giải quyết cho chị Ph được ly hôn anh Th.

Về con chung: Chị Ph và anh Th có 01 con chung là cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016, từ nhỏ cháu Đ do chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi vợ chồng mâu thuẫn không thể chung sống cùng nhau, chị Ph đã đưa cháu Đ về Hà Nội ở cùng bố mẹ chị Ph. Tháng 6/2020 anh Th đã lừa cô giáo để đón cháu Đ về YM sinh sống, nhưng không thông báo cho chị Ph biết, khi chị Ph về đón cháu Đ, anh Th không cho đón con và cản trở không cho chị Ph gặp cháu Đ. Khi ly hôn chị Ph xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con, cháu Đ còn rất nhỏ nên cần có sự chăm sóc của mẹ. Hiện nay chị Ph có công việc và thu nhập ổn định mỗi tháng từ 14.000.000đ - 20.000.000đồng, có đủ điều kiện để chăm sóc tốt cháu Đ, chị Ph đang ở cùng nhà với bố mẹ tại Hà Nội, nên điều kiện chăm sóc cháu Đ được phát triển tốt hơn.

Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung và không có công nợ chung, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10 tháng 8 năm 2021, biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Trung Th trình bày:

Về thời gian điều kiện kết hôn và chung sống như chị Ph trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc không sảy ra va chạm bao giờ, chỉ đến ngày 11 và ngày 12/02/2020 vợ chồng sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là chị Ph say rượu đập phá nhà cửa và tát anh, nên anh có tát chị Ph một cái, chị Ph có gọi cho ông bà ngoại đón đi. Trong lúc chị Ph say rượu, anh có quay lại video, khi chị Ph về nhà bố mẹ đẻ, anh có gửi video anh quay chị Ph say rượu cho bố mẹ vợ. Sau khi sảy ra mâu thuẫn vợ chồng, anh có lên nhà bố mẹ vợ ở Hà Nội để đón vợ về, nhưng bố mẹ vợ không cho chị Ph về, nên chị Ph không về chung sống cùng anh, hai tháng sau anh lại tiếp tục lên gặp chị Ph, vợ chồng cùng nhau đi chơi, ăn uống và có quan hệ vợ chồng. Đến tháng 6/2020 anh lên gặp chị Ph, khi quan hệ vợ chồng thì anh có linh cảm thấy chị Ph đã ngoại tình với người đàn ông khác, nên anh có cài định vị ở điện thoại của chị Ph, anh mới phát hiện chị Ph nói chuyện điện thoại, nhắn tin với người đàn ông khác. Sau nhiều lần anh muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng chị Ph không đồng ý về chung sống cùng với anh. Nay chị Ph có đơn xin ly hôn, anh Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đồng ý ly hôn chị Ph.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016. Khi ly hôn anh Th xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh Th đang bán hàng online và có đầm nuôi tôm tại xã YM, huyện Y, thu nhập khoảng 150.000.000đ/năm. Anh Th đang ở cùng với bố mẹ, cháu Đ là cháu đích tôn, nên anh Th không đồng ý để chị Ph nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung và không có công nợ chung, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 17 tháng 4 năm 2021 Ủy ban nhân dân xã YM, huyện Y cung cấp: Chị Trần Thị Kim Ph và anh Phạm Trung Th kết hôn trên cơ sở tư nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã YM, huyện Y vào ngày 20/12/2015. Sau khi kết hôn anh Th, chị Ph không chung sống tại địa phương, nên việc sảy ra mâu thuẫn như thế nào chính quyền địa phương không biết. Từ tháng 02/2020 đến nay anh Th sống tại địa phương, còn chị Ph sinh sống tại thành phố Hà Nội. Nay chị Ph có đơn xin ly hôn anh Th. Quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh ngày 17 tháng 4 năm 2021 Công an xã YP, huyện Y cung cấp: Công an xã YP đã nhận được hồ sơ do cơ quan điều tra Công an huyện Y bàn giao về việc chị Ph có đơn trình báo anh Phạm Trung Th gây thương tích cho chị Ph sảy ra vào ngày 12/02/2020. Công an xã YP đã làm việc với chị Ph và anh Th, anh Th khai nhận đã đánh đập chị Ph, nguyên nhân do anh Th ghen tuông chị Ph có quan hệ ngoại tình. Sau khi Công an xã YP thu thập được các tài liệu, chứng cứ nhận thấy việc anh Th đánh chị Ph phải nhập viện là có căn cứ. Vì vậy Công an xã YP đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12 ngày 25/8/2020 đối với anh Phạm Trung Th. Từ tháng 7/2019 đến tháng 02/2020 vợ chồng chị Ph và anh Th chung sống tại ngã ba L, xã YP, anh Th chị Ph thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do anh Th ghen tuông, anh Th có đánh chị Ph vào ngày 11/02/2020 và ngày 12/02/2020, chị Ph đã đưa con bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thành phố Hà nội ngay trong đêm ngày 12/02/2020.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Chấp nhận yêu khởi kiện của chị Trần Thị Kim Ph, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Kim Ph và anh Phạm Trung Th. Quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị Kim Ph và anh Phạm Trung Th chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016 cho chị Trần Thị Kim Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ tuổi thành niên. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Th có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị Ph không ai được cản trở anh Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim Ph và anh Phạm Trung Th mỗi người phải nộp án phí ly hôn là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền án phí ly hôn của chị Ph được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được hoàn lại 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002416 ngày 23/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, quyền nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 08 tháng 10 năm 2021 anh Phạm Trung Th có đơn kháng cáo một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Y về phần nuôi con chung. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử cho anh Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016 cho đến khi cháu trưởng thành, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn anh Phạm Trung Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án giao cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016 cho anh Th trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành, không yêu cầu chị Ph phải cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Trung Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Anh Phạm Trung Th phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Trung Th là bị đơn, có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định; hình thức, nội dung đơn kháng cáo đúng theo quy định tại Điều 272, 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy đơn kháng cáo của anh Phạm Trung Th hợp lệ, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

. Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Trung Th đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm giao cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016 cho anh Th trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Th và chị Ph có một con chung là cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016. Cả hai anh chị đều có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án anh Th, chị Ph đều đã cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh mức thu nhập của mình, có đủ điều kiện chăm sóc cháu Đ để cháu Đ phát triển tốt. Anh Th và chị Ph đều có công việc ổn định, thu nhập của chị Ph mỗi tháng là 14.000.000đ - 20.000.000đ/tháng; thu nhập của anh Th mỗi năm là 150.000.000đ/năm, anh Th và chị Ph đều đang chung sống cùng bố mẹ nên có chỗ ở ổn định. Tại thời điểm ly hôn anh Th, chị Ph đều có đủ điều kiện về mọi mặt để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên chị Ph, anh Th chỉ có một con chung, nên khi quyết định giao con cho ai nuôi dưỡng cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự ổn định phát triển về thể chất, tâm sinh lý của con trẻ, cũng như trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của người làm cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng đối với con chung chưa thành niên. Hiện tại cháu Đ còn nhỏ rất cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, từ nhỏ cháu Đ được chị Ph chăm sóc nuôi dưỡng, chỉ đến tháng 6 năm 2020 anh Th đón cháu Đ tại lớp mẫu giáo nhưng không thông báo cho chị Ph, khi chị Ph về chơi đón cháu Đ thì anh Th không cho chị Ph đón cháu Đ về sinh sống cùng với chị Ph và cản trở không cho chị Ph thăm con chung. Anh Th không đồng ý giao con cho chị Ph chăm sóc nuôi dưỡng, vì lý do chị Ph lẳng lơ ngoại tình không chăm sóc cho con và cháu Đ là cháu đích tôn nên phải ở cùng với anh Th và ông bà nội. Lý do mà anh Th đưa ra để không đồng ý cho chị Ph chăm sóc nuôi cháu Đ là không chính đáng. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử giao cho chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Anh Đ, sinh ngày 10/9/2016 là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Từ căn cứ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Trung Th; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Trung Th không được chấp nhận, nên anh Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ: khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 10/2021/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

2. Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Phạm Trung Th phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh Th đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Y, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu số: AA/2021/0006204 ngày 08 tháng 10 năm 2021.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27 tháng 12 năm 2021).

Cỡ chữ