vanban.org

Bản án 13/2021/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông hạm Văn M, bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn M1, ông hạm Văn S, ông hạm Văn T (Mét đen và còn có tên hạm Văn T2) ông hạm Văn T2 đối với b đơn bà han Th về tranh chấp Quyền sử dụng đất đối với diện tích 4.

Không chấp nhận yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04596, số phát hành Cv027472, tại thửa số 118, tờ bản đồ số 8, diện tích 4041,6 m2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp cho bà han Th vào ngày 13-3-2020. Bà han Th được quyền sử dụng phần đất diện tích 4.041,6 m2 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 13/2021/DS-ST Tuyên án 27/10/2021
Phúc thẩm Bản án 429/2022/DS-PT Tuyên án 28/06/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "“Tranh chấp Quyền sử dụng đất”; “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông hạm Văn M, bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn M1, ông hạm Văn S, ông hạm Văn T (Mét đen và còn có tên hạm Văn T2) ông hạm Văn T2 đối với b đơn bà han Th về tranh chấp Quyền sử dụng đất đối với diện tích 4.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2021/DS-ST
Ngày: 27 – 10 – 2021
V/v “Tranh chấp Quyền sử dụng
đất”; “Hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”; “Bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà hạm Th Thanh Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Th Hồng Minh;

Ông Nguyễn Văn Nho.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần hước Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Nguyễn Th Bé Thi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 22 và 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2021/TLST- DS ngày 26 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”; “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 20/2021/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2021 và thông báo số 91 /TB-TA ngày 12 tháng 10 năm 2021 về việc mở lại phiên tòa, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ông hạm Văn M, sinh năm 1966.

Bà hạm Th Xuân D, sinh năm 1968.

Ông hạm Văn M1, sinh năm 1970.

Ông hạm Văn S, sinh 1974.

Ông hạm Văn T, sinh năm 1975 (Mét đen và còn có tên hạm Văn T1).

Ông hạm Văn T2, sinh năm 1978.

Tất cả cư trú: Ấp , xã , Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

- Người đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn: Ông Vương Sơn H, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Số 72, đường T, khu phố N, phường N, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Theo văn bản ủy quyền ngày 15-6-2020. (có mặt)

2. Bị đơn: Bà han Th , sinh năm 1957.

Nơi cư trú: Nhà số 6A, Hẻm số 4, Đường 30-4, Khu phố 5, hường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đặng Văn H, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Nhà số 6A, Hẻm số 4, Đường 30-4, Khu phố 5, hường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. (chồng bà Phan Th , vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Văn H: Bà han Th , sinh năm 1957. Theo văn bản ủy quyền ngày 21-01-2021. (có mặt)

- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh: Đại diện theo pháp luật là ông Trần Quang S – hó Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Th Kiều T – hó Giám đốc phòng Đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh Dương Minh Châu. Theo văn bản ủy quyền số 6216/STNMT-V ĐKĐĐ ngày 01-10-2021. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn trình bày:

Các nguyên đơn và b đơn không có mối quan hệ họ hàng bà con và không quen biết. Vào tháng 11 năm 1972 ông Nguyễn Văn D bán cho ông hạm Văn L (cha ruột của các nguyên đơn) khoảng 01 ha đất rừng, không nhớ giá mua bán là bao nhiêu. Khi sang nhượng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có viết giấy tay sang nhượng đất giao cho ông hạm Văn L giữ, hai bên giao nhận tiền và đất xong, sau khi sang nhượng gia đình ông hạm Văn L sử dụng đất trồng hoa màu. Đến khoảng năm 1990, ông hạm Văn L cho ông han Văn Đ (cha ruột bà han Th ) mượn đất (không có giấy tờ) diện tích khoảng 5.000 m2 để cất nhà sinh sống, diện tích còn lại ông hạm Văn L quản lý, sử dụng cất nhà để ở và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất cho ông Phan Văn Đ mượn ông hạm Văn L không kê khai đăng ký vì dự đ nh cho các nguyên đơn.

Năm 2000 ông han Văn Đ trả đất cho ông hạm Văn L và ông hạm Văn L sử dụng trồng hoa màu. Năm 2015 ông hạm Văn L chết, bà Đặng Th C (vợ ông hạm Văn L) và các nguyên đơn quản lý, sử dụng. Năm 2016 bà Đặng Th C chết phần đất này giao cho các nguyên đơn quản lý trồng hoa màu. Năm 2017, bà han Th là con ông hạm Văn Đ đem trụ xi-măng và kẽm B40 rào toàn bộ diện tích 5.000 m2 đất nêu trên, hai bên xảy ra xô xát.

Quá trình giải quyết tại Ủy ban nhân dân xã , các nguyên đơn mới biết diện tích đất đang tranh chấp được Ủy ban nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho b đơn bà han Th vào ngày 20-6-1997 diện tích 3.980 m2.

Sau đó, Ủy ban nhân dân xã giải quyết không thành nên chuyển đến Tòa án giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 16-5-2018 các nguyên đã đơn khởi kiện đối với bà han Th yêu cầu trả diện tích đất 5.000 m2. Ngày 21-11-2019 các nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.Tòa án đã ra quyết đ nh đình chỉ vụ án, bà Phan Th đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại theo diện tích đo đạc thực tế là 4.041,6 m2 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lý do rút đơn khởi kiện là để các nguyên đơn khởi kiện Ủy ban nhân dân Huyện D về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà han Th là không đúng. Sau đó, Ủy ban Huyện D trả lời là đất của bà han Th đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thẩm quyền giải quyết là Tòa án và các nguyên đơn tiếp tục khởi kiện lần thứ hai đối với bà han Th về diện tích đất trên.

Các nguyên đơn cho rằng diện tích đất đang tranh chấp là thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình nguyên đơn, yêu cầu bà han Th giao trả phần đất diện tích 4.041,6 m2 (diện tích đo đạc thực tế) tọa lạc tại ấp , xã , Huyện D, tỉnh Tây Ninh cho các nguyên đơn; đồng thời yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 4.041,6 m2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 13-3-2020 cho bà han Th đứng tên. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Phan Thị P trình bày:

Bà han Th có diện tích đất 3.980 m2 tọa lạc tại ấp , xã , Huyện D, tỉnh Tây Ninh được Ủy ban nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 20-6-1997, có sơ đồ đ a chính, sau đó có đo đạc lại hai lần vào ngày 12-6-2003 và ngày 22-01-2009 và hiện nay đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 13-3-2020 diện tích đất đo đạc thực tế là 4.041,6 m2. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, với lý do sau: Nguồn gốc đất là bà mua của ông hạm Văn L bà Đặng Th C (cha mẹ ruột của các nguyên đơn) vào năm 1979 có xác nhận của người dân sống lâu năm tại khu đất và chính quyền đ a phương. Diện tích đất trên bà và gia đình đã canh tác, sản xuất từ năm 1979 cho đến nay, có xác nhận của người dân sống lâu năm tại khu đất và chính quyền đ a phương. Khi mua có cắm trụ gỗ làm ranh 4 gốc đất, sau đó có cắm trụ rào bê tông vào năm 2018, có cán bộ đ a chính đến cùng xác đ nh ranh giới với ông hạm Văn L và bà Đặng Th C là chủ đất để chứng kiến việc trồng trụ xi-măng xác đ nh ranh đất giữa các bên, có nhân chứng Hồ Thanh C, Lê Th L chứng kiến.

Ngày 02-7-2017 bà han Th xây dựng hàng rào trên nền trụ rào xi-măng cũ thì bà hạm Th Xuân D tranh chấp ranh đất, chính quyền có đến xác đ nh ranh đất của các bên cùng sự có mặt của bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn S, ông hạm Văn M1, sau đó bà han Th tiếp tục đóng cọc hàng rào, qua hôm sau, ông hạm Văn M1 đã đạp đỗ 4 trụ rào (phía ranh đất ông hạm Văn L), bà Phan Th mời đ a chính xuống giải quyết lần thứ hai để xác đ nh ranh đất theo yêu cầu của ông hạm Văn M1 là phải dời vô trong 0,2 mét cho thẳng ranh và chính bà hạm Th Xuân D (nguyên đơn) là người kéo dây xác đ nh ranh đất thep ý bà có sự chứng kiến của đ a chính ông Bành Minh L và 3 người làm công cho bà han Th là: ông B, ông L1, ông hạm Văn T và người hàng xóm ông Huỳnh Quốc G, các trụ rào cũ bà han Th sử dụng lại làm trụ chống chỏi trụ rào mới. Nhưng sau đó, đêm ngày 22-12-2017 rạng sáng ngày 23-12-2017 được tin báo bà hạm Th Xuân D và nhiều người khác đã tháo dỡ hàng rào qua kiểm tra là 126 m hàng rào B40, bà han Th báo công an xã họp giải quyết (có biên bản), tại cuộc họp bà hạm Th Xuân D xác đ nh có tháo dỡ hàng rào và dọa chém nếu ai vào đất này. Ngày 03-01-2018 bà hạm Th Xuân D đã ngang nhiên lấn chiếm toàn bộ diện tích đất trên để trồng đậu xanh, bà han Th có báo công an xã và công an Huyện D yêu cầu xử lý hình sự đối với bà hạm Th Xuân D về hành vi cưỡng đoạt tài sản, tại văn bản số 150/CV-CAH ngày 26-3-2018 của Công an Huyện Dương Minh Châu trả lời về hành vi tháo gỡ của bà hạm Th Xuân D không có dấu hiệu của tội phạm.

Quá trình tranh chấp giữa các bên: Năm 2008 tranh chấp lần 1, ông hạm Văn L có tranh chấp về ranh đất và đã được đ a chính Nguyễn Thanh giải quyết, ông hạm Văn L đã biết phần đất đang tranh chấp với bà đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lúc đó ông Phạm Văn L đồng ý xác đ nh ranh đất và cắm trụ rào xong. Từ đó cho đến năm 2015 ông hạm Văn L chết, ông không có tranh chấp về đất đai gì hết. Trong khi cha bà han Th (ông han Văn Đ) chết từ ngày 25-01-1999 tức chết trước ông hạm Văn L 16 năm mà ông Phạm Văn L và gia đình không có tranh chấp đất.

Năm 2017 phát sinh tranh chấp lần thứ hai do ông hạm Văn M, bà hạm Th Xuân D... tháo dỡ hàng rào lưới B40 và lấn chiếm toàn bộ diện tích đất của bà.

Bà han Th xác đ nh các nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày không đúng. Ông han Văn Đ (cha ruột của bà han Th ) không có mượn đất của ông hạm Văn L, bà Chính. Gia đình bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn T... không có sử dụng đất đang tranh chấp. Bà và gia đình đã sử dụng trồng khoảng 40 cây dừa ăn trái, làm nhà tạm, làm hàng rào.... ông Hồ Thanh C và bà Lê Th L là người làm vườn cho bà từ năm 1999 đến năm 2017.

Ngày 13-9-2017 bà có vào chân điện thắp sáng tại v trí đất trên, tháng 7-2017 bà cho người là hàng rào B40, không xây chân rào, có khoảng 80 trụ xi – măng cao khoảng 0,2 m, có cổng rào, cửa rào xung quanh phần đất, khi làm hàng rào bà hạm Th Xuân D biết, ông hạm Văn M1 biết, đến 23-12-2017 bà hạm Th Xuân D tháo dỡ hàng rào của bà và các bên tranh chấp cho đến nay.

Bà không đồng ý khởi kiện của các nguyên đơn và bà phản tố yêu cầu các nguyên đơn cụ thể là bà hạm Th Xuân D và ông hạm Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho bà 2.000.000 đồng vì ngày 09-6-2020 bà tiếp tục vào đất cho 3 người thợ sửa chữa làm hàng rào lại, cụ thể: ông T3 (bé), ông hạm Văn T và ông Đ (tự L) tiền công 1 ngày /300.000 đồng, 3 người là 900.000 đồng và tiền thuê xe ô tô hai lượt đi về lá 1.100.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000 đồng, khi thợ đến làm ông hạm Văn T3 hăm dọa và chữi nếu ai vào đất thì cho người chém, bà cho thợ làm lại hàng rào hai mặt phía trước và sau, còn mặt bên hông chưa làm k p thì công an xã đến do bà yêu cầu đã lập biên bản tạm dừng sửa chữa hàng rào chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Hiện trạng hàng rào hiện nay: Hướng Bắc giáp Sơn Đình 2 có đoạn hàng rào kẽm b tháo dỡ (để xuống đất) gần cổng rào dài 05m, hướng Đông giáp đất ông hạm Văn M1 có đoạn hàng rào kẽm B40 b tháo dỡ (cuộn tròn để xuống đất) dài khoảng 46 m, hướng Nam giáp đất ông hạm Văn M1 có đoạn hàng rào kẽm B40 b tháo dỡ để dưới đất khoảng 40 m, hướng Tây hàng rào kẽm không b tháo dỡ, trên đất hiện không có tài sản, cây trồng gì. Do hàng rào b tháo dỡ để tại đất, không đập phá hàng rào nên bà không yêu cầu thẩm đ nh thiệt hại mà chỉ yêu cầu trả tiền thuê công thợ sửa chữa hàng rào và tiền thuê xe ô tô vào xem thợ sửa chữa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay bà đang giữ chờ kết quả giải quyết của Tòa án, bà không có thế chấp ở đâu.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà han Th đại diện cho ông Đặng Văn H trình bày: bà và ông Đặng Văn H là vợ chồng, với tư cách đại diện cho ông Đặng Văn H, thống nhất lời trình bày của bà han Th . Tài sản trên hiện vợ chồng đã thỏa thuận là tài sản riêng của bà han Th .

- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh có văn bản trình bày ý kiến:

1. Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Ngày 20/6/1997, ông (bà) han Th được UBND Huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00867, số phát hành I824332, tại thửa đất số 2683, 2684, 2685, 4061, tờ bản đồ số 1, với tổng diện tích là 3980 m2 , mục đích sử dụng đất: 400 m2 T, 1720 m2 vườn, 1180 m2 lúa.

Ngày 23/12/2019, bà han Th nộp hồ sơ đăng ký biến động đất đai sang đo lưới chính quy 2010 đối với các thửa đất số 2683, 2684, 2685, 4061, tờ bản đồ số 1 thành thửa đất số 118, tờ bản đồ số 8, diện tích 4041,6 m2 (Trong đó: 400 m2 ONT, 1720 m2 CLN, 1921,6 m2 LUK). Ngày 26/02/2020, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh Dương Minh Châu ký thẩm đ nh, xác nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 13/3/2020, bà han Th được Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04596, số phát hành Cv027472, tại thửa số 118, tờ bản đồ số 8, diện tích 4041,6 m2 , mục đích sử dụng đất: 400 m2 ONT, 1720 m2 CLN, 1921,6 m2 LUK.

2. Về việc yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà han Th P:

Trong thời gian gải quyết thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà han Th tại thửa số 118, tờ bản đồ số 8, diện tích 4041,6 m2 , Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh Dương Minh Châu không tiếp nhận bất cứ đơn ngăn chặn, đơn khiếu nại hay công văn yêu cầu tạm dừng của cá nhân hay tổ chức nào đối với thửa đất trên.

Từ đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà han Th đảm bảo đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy đ nh.

Tại phiên tòa sơ thẩm;

1- Đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn xác đ nh giữ nguyên nội dung khởi kiện và trình bày các căn cứ chứng hạm Văn M cho việc khởi kiện như sau:

Nguồn gốc đất đã rõ là đất của ông hạm Văn L mua của ông Nguyễn Văn D vào năm 1972 khoảng 01 ha, phía b đơn cũng thừa nhận, b đơn cho rằng đã mua đất nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc mua bán sang nhượng, các nguyên đơn là người sử dụng đất suốt từ 2000 sau khi cha b đơn (ông han Văn Đ) chết cho đến khi tranh chấp có người làm chứng là ông Nguyễn Công T, Nguyễn Thanh C ... những người sống lâu năm xác nhận sự việc. Do đó, đề ngh công nhận quyền sử dụng đất cho các nguyên đơn và Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền cấp cho bà han Th .

Không đồng ý yêu cầu phản tố của b đơn về yêu cầu bồi thường thiệt hại 2.000.000 đồng.

2- B đơn trình bày: Không đồng ý toàn bộ khởi kiện của các nguyên đơn, với các lý do sau:

Việc mua đất của ông hạm Văn L bà Đặng Th C có ông Hồ Văn M là người viết giấy tay xác nhận và có nhiều người dân sống lâu năm tại khu vực đó xác nhận. Quá trình sử dụng đất và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp, bà được cấp lần đầu vào ngày 20-6-1997 thời điểm này ông hạm Văn L bà Đặng Th C còn sống không ai ngăn cản, tranh chấp gì hết, sau khi cha bà chết vào năm 1999 ông hạm Văn L bà Đặng Th C cũng không tranh chấp toàn bộ diện tích đất. Đến 13-3-2020 bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp lại,bà và gia đình sử dụng đất hợp pháp, được cấp giấy tờ đúng quy đ nh, đề ngh công nhận quyền sử dụng đất cho bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật và tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề ngh căn cứ khoản 6, 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34; Điều 37; Điều 38; Điều 147; Điều 157; Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 170; khoản 2 Điều 221; Điều 235; Không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu phản tố của b đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa sơ thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện 2 yêu cầu đã đóng tạm ứng án phí, b đơn phản tố nhưng là người cao tuổi đã có đơn xin miễn án phí. Sở Tài nguyên và Môi trường cử người tham gia tố tụng và có đơn xin xét xử vắng mặt, phù hợp Điều 217, Điều 218 cuả Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật giải quyết: Các nguyên đơn yêu cầu xác đ nh quyền sử dụng phần đất diện tích 4.041,6 m2 là của cha mẹ các nguyên đơn đã chết để lại và yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên vì nguồn gốc đất của cha mẹ nguyên đơn cho mượn để ở. hía b đơn không đồng ý, cho rằng diện tích 4.041,6 m2 đất trên b đơn đã sang nhượng vào năm 1979 và sử dụng xuyên suốt đã được Ủy ban nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận vào 20-6-1997 và Sở Tài nguyên và Môi trường, tỉnh Tây Ninh cấp giấy lại lần hai vào ngày 13-3-2020 là hợp pháp. hía b đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn bồi thường 2.000.000 đồng tiền chi phí sửa chữa hàng rào kẽm B40 do nguyên đơn tháo dỡ, các nguyên đơn không đồng ý bồi thường. Các bên có tranh chấp, xác đ nh quan hệ pháp luật giải quyết là “ Tranh chấp Quyền sử dụng đất”; “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy đ nh tại Điều 170; Điều 221; Điều 235 của Bộ luật Dân sự.

Xét yêu cầu của các nguyên đơn, thấy rằng: Yêu cầu xác đ nh quyền sử dụng đất là của nguyên đơn nhưng không có chứng cứ chứng minh về quá trình sử dụng đất hợp pháp, bởi lẽ:

Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là 4.041,6 m2: Các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án và các bên đương sự thống nhất là của ông hạm Văn L và bà Đặng Th C là cha mẹ ruột của các nguyên đơn (hiện nay đã chết), và nguyên đơn cung cấp tài liệu là “Tờ nhượng đất rẩy” ngày 10-5-1972 nội dung: Ông Nguyễn Văn D nhượng 01 mẫu rừng chồi cho bà Đặng Th C. (đây là tài liệu phô tô không có công chứng chứng thực, không có người làm chứng nên tài liệu trên mang tính tham khảo).

Về đo đạc, xem xét hiện trạng và thẩm đ nh giá tr đất: Các bên đương sự thống nhất biên bản xem xét thẩm đ nh tại chổ ngày 04-8-2020 và chứng thư thẩm đ nh giá số 21012/CT-TĐG ngày 14-01-2021 của Công ty TNHH Thẩm đ nh gía Nova, không yêu cầu đo đạc, đ nh giá lại. Theo tài liệu trên diện tích đất 4.041,6 m2 tọa lạc tại ấp , xã , Huyện D, tỉnh Tây Ninh có giá tr là 3.503.440.056 đồng, tài sản gắn liền trên đất: Hàng rào B40 là 14.509.550 đồng, cửa cổng tạm là 250.000 đồng. Tổng cộng là 3.518.200.000 đồng.

Xét quá trình sử dụng đất tranh chấp, thấy rằng: Giữa nguyên đơn và b đơn không có mối quan hệ họ hàng, quen biết gần gủi… hía nguyên đơn cho rằng cha mẹ đã cho ông han Văn Đ mượn đất để ở đến chết thì trả lại nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh việc cho mượn đất. hía b đơn cho rằng đã sang nhượng đất vào năm 1979 thể hiện qua hồ sơ kê khai đăng ký sử dụng đất năm 1995; lời trình bày xác nhận của ông Hồ Văn M, sinh năm 1939 (là người viết hộ giấy tay sang nhượng đất) việc b đơn sử dụng đất liên tục từ năm 1979 cho đến nay qua lời trình bày xác nhận của những người dân sống gần khu đất là ông Huỳnh , sinh năm 1940, Bà hạm Th N, sinh năm 1932… và Trưởng Ban công tác mặt trận ấp - ông Trần Công C xác nhận vào ngày 11-01-2018 nội dung: “ Bà Phan Thị P… có canh tác trên mãnh đất bà mua của ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị C và canh tác từ đó cho đến nay”, ông Bình Minh Lợi, đ a chính xã trình bày: “...tôi xác định số diện tích đất này của bà Phan Thị P quản lý, sử dụng hợp pháp” ( BL 270). Như vậy, có căn cứ xác đ nh bà han Th và gia đình đã quản lý và sử dụng đất liên tục từ năm 1979.

Đối với lời xác nhận của ông Nguyễn Thanh C – Trưởng ban quản lý ấp P xác nhận vào ngày 18-01-2018 nội dung là “...tôi xác định gia đình bà Phan Thị P canh tác và quản lý sử dụng từ trước đến nay” (BL 271), tương tự ông Nguyễn Công T, sinh năm 1958 cũng xác nhận “...ông Phan Văn Đ (cha bà han Th ) cất nhà ở thời gian từ năm 1979 - 1980...sau đó ông Phan Văn Đ chết thì thấy bà Phan Thị P vào thu hoạch cây ăn trái trên đất...” (BL 272), sau đó các ông thay đổi lời trình bày, xác nhận cho bên nguyên đơn cụ thể nội dung như sau: “...tôi không biết bà Phan Thị P vì bà Phan Thị P không có ở đây...” (ông Nguyễn Thanh C xác nhận ngày 06-4-2020 BL194); “...tôi hoàn toàn không biết bà Phan Thị P là sự thật” (ông Nguyễn Công T xác nhận ngày 06-4-2020 BL 196). Do đó, không xem xét lời xác nhận của các ông vì không khách quan.

Trình tự, thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tranh chấp: Tại thời điểm bà han Th thực hiện thủ tục kê khai đăng ký đất đai vào 1995 bên nguyên đơn không có ý kiến phản ứng và 05 năm sau vào ngày 25-01-2002 cha nguyên đơn là ông hạm Văn L đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, hoàn toàn không có đề cập hay đăng ký đến diện tích đất 4.041,6 m2 đang tranh chấp và diện tích đất tranh chấp có hướng Tây và hướng Nam hiện tại giáp với đất của ông hạm Văn M1 (là nguyên đơn) sử dụng, trước đây là ông hạm Văn L.

Về trình tự thủ tục cấp giấy đất: tại BL 273 Biên bản xác minh đ a chính xã , Huyện D ( ông Huỳnh Thanh P) thể hiện: “Trình tự thủ tục cấp giấy đất vào thời điểm năm 1990 đến 2008 như sau: Chủ sử dụng đất có trách nhiệm đến UBND xã xem sơ đồ địa chính để nhìn nhận thửa đất của mình đang sử dụng, việc này Ủy ban xã đã thông báo rộng rãi, sau khi nhìn nhận thửa đất trên bản đồ, chủ sử dụng đất kê khai vào sổ đăng ký QSDĐ và nguồn gốc sử dụng… Ủy ban làm quy trình cấp giấy cho hộ ông Phạm Văn L và bà Phan Thị P là đúng quy trình cấp giấy”.

Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh: Có văn bản trả lời số 5573/STNMT – V ĐKĐĐ ngày 06-9-2021 xác đ nh về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho b đơn bà han Th là đúng quy trình, trong suốt quá trình thực hiện thủ tục cấp giấy từ 23-12-2019 đến 13-3-2020 (gần 3 tháng) không có nhận được khiếu nại gì đối với diện tích đất trên.

Mặt khác: Vụ án này, trước đây năm 2018 các nguyên đơn khởi kiện, sau đó rút toàn bộ đơn khởi kiện: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đình chỉ giải quyết theo Quyết đ nh số 179/2019/QĐST-DS ngày 29-11-2019.

Như vậy, có căn cứ xác đ nh bà han Th và gia đình sử dụng đất hợp pháp và liện tục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào 20-6-1997 và cấp lại vào ngày 13-3-2020.

Từ những nhận đ nh trên, không có căn cứ chấp nhận 2 yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn.

Xét phản tố của b đơn, thấy rằng: Bà han Th phản bác yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà, đồng thời bà Phan Th phản tố yêu cầu bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn T (đồng nguyên đơn) bồi thường 2.000.000 đồng vì đã tháo dỡ hàng rào trên đất bà phải thuê thợ dựng lại và dùng dao đuổi chém bà phải thuê xe ô tô đi từ thành phố Tây Ninh vào đất để thực hiện việc dựng lại hàng rào, nhưng sau đó phía bà hạm Th Xuân D vẫn tiếp tục tháo dỡ hàng rào lần thứ hai, hiện tại chưa thuê người dựng lại vì chờ kết quả giải quyết tranh chấp của Tòa án.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc tháo dỡ hàng rào là có thật bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn T thừa nhận việc tháo dỡ vì đất đó là của nguyên đơn không phải của b đơn. Tuy nhiên, theo biên bản xem xét tại chổ, hiện tại hàng rào vẫn b tháo dỡ chưa sữa chữa lại, do đó, cần tách yêu cầu phản tố về bồi thường thiệt hại của bà han Th đối với các nguyên đơn giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Các đồng nguyên đơn phải ch u án phí dân sự sơ thẩm do khởi kiện không được chấp nhận. Tổng giá tr đất là 3.503.440.056 đồng tiền án phí được tính theo Ngh quyết 326 như sau: 72.000.000 đồng + (2% x 1.503.440.056 đồng) = 102.068.801,12 đồng. Ghi nhận đã nộp 12.300.000 đồng theo biên lai thu số 0004582 ngày 28-5-2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Còn phải nộp 89.768.801,12 đồng. Trong đó ông Ông hạm Văn M, Bà hạm Th Xuân D, Ông hạm Văn S, Ông hạm Văn T (Mét đen và còn có tên hạm Văn T2), Ông hạm Văn T2, Ông hạm Văn M1 mỗi người phải ch u 14.961.46,12 đồng làm tròn là 14.961.000 đồng.

Các nguyên đơn phải ch u 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền án dân sự sơ thẩm về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được chấp nhận. Ghi nhận đã nộp xong theo biên lai thu số 0001662 ngày 26-5-2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

Các nguyên đơn phải ch u chi phí đo đạc thẩm đ nh tài sản là 11.000.000 đồng. Ghi nhận đã nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Căn cứ khoản 6, 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34; Điều 37; Điều 38; Điều 147; Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 170; khoản 2 Điều 221; Điều 235; Điều 584 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 106 của Luật Đất đai. Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

2. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông hạm Văn M, bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn M1, ông hạm Văn S, ông hạm Văn T (Mét đen và còn có tên hạm Văn T2) ông hạm Văn T2 đối với b đơn bà han Th về tranh chấp Quyền sử dụng đất đối với diện tích 4.041,6 m2 tọa lạc tại ấp , xã , Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Không chấp nhận yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS04596, số phát hành Cv027472, tại thửa số 118, tờ bản đồ số 8, diện tích 4041,6 m2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp cho bà han Th vào ngày 13-3-2020.

Bà han Th được quyền sử dụng phần đất diện tích 4.041,6 m2 tọa lạc tại ấp , xã , Huyện D, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp đổi vào số số CS04596 ngày 13-3-2020 cho bà han Th đứng tên.

Đối với yêu cầu phản tố về Bồi thường thiệt hại của bà han Th được tách ra giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

3. Chi phí đo đạc: Các nguyên đơn phải ch u chi phí đo đạc, thẩm đ nh là 11.000.000 đồng. Ghi nhận đã nộp xong.

4. Về án phí: Các nguyên đơn phải ch u 102.068.801 đồng. Ghi nhận đã nộp 12.300.000 đồng theo biên lai thu số 0004582 ngày 28-5-2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Còn phải nộp 89.768.801 đồng. Trong đó ông hạm Văn M, bà hạm Th Xuân D, ông hạm Văn S, ông hạm Văn T (Mét đen và còn có tên hạm Văn T2), ông hạm Văn T2, ông hạm Văn M1 mỗi người phải ch u là 14.961.000 đồng (mười bốn triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn).

Nguyên đơn phải ch u 300.000 đồng tiền án dân sự sơ thẩm về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được chấp nhận. Ghi nhận đã nộp xong theo biên lai thu số 0001662 ngày 26-5-2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

Bà han Th không phải ch u tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng người vắng mặt được quyên kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền đ a phương nơi cứ trú./.

Cỡ chữ