- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ND Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN; BD Thạch Thị Pha N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN đối với bị đơn bà Thạch Thị Pha N.
- Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2021/DS-ST Ngày: 26-3- 2021 V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Triệu Khánh Long
2/ Bà Nguyễn Huỳnh Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Đêm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 153/2020/TLST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2020, về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2021; giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN.
Trụ sở: Lý Tự Trọng, phường N, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cảnh V – Chức vụ quyền Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Quách Tú T – Trưởng phòng hhách hàng doanh nghiệp kiêm Trưởng phòng khách hàng cá nhân Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN– Chi nhánh Eximbank BL (theo giấy ủy quyền số 54/2021/EIB/UQ-TGĐ ngày 25/3/2021); Địa chỉ chi nhánh: Khóm A, Phường B, thành phố BC, tỉnh Bạc Liêu. (Ông T có mặt)
- Bị đơn: Bà Thạch Thị Pha N; Sinh năm 1980, địa chỉ: khóm B, Phường C, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Trường Mầm non Phường A thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: Phường A, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
A/ Bà Lý Thị Mỹ H – Chủ tịch Công đoàn, nơi công tác Trường Mầm non Phường A, thị xã VC; Địa chỉ: Phường A, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 năm 2020 (BL75-76) của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN, biên bản lấy lời khai ngày 18/8/2020 (BL01) và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông Quách Tú T là người được ủy quyền lại của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 07/9/2013 bà Thạch Thị Pha N có ký hợp đồng tín dụng số 1504-LAV-20131027 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN– Chi nhánh BL vay số tiền 80.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 tháng kể từ ngày 07/9/2013, lãi suất cho vay 9,6%/năm (Lãi suất cho vay được cố định trong suốt thời gian vay và lãi suất được góp đều tính trên dự nợ ban đầu), lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Để đảm bảo cho khoản vay bà Thạch Thị Pha N được Chủ tịch Công đoàn Trường Mần non Phường A, thị xã VC do bà Lý Thị Mỹ H cam kết bảo lãnh trả nợ thay với Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN. Quá trình thực hiện hợp đồng vay thì bà Pha N đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc được 70.840.694 đồng và tiền lãi 23.741.203 đồng thì bà Pha N đã không còn thực hiện đúng theo thỏa thuận nữa nên đã bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 20/3/2017.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Thạch Thị Pha N phải trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng là 46.256.736 đồng (Trong đó nợ gốc 9.159.306 đồng; Lãi trong hạn 24.448.000 đồng; Lãi quá hạn 12.649.430 đồng) tạm tính đến ngày 25/5/2020 và lãi phát sinh tiếp theo cho đến khi bà Pha N trả xong nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp bà Pha N không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì đề nghị Tòa án yêu cầu Trường Mầm non Phường A, thị xã VC trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN.
Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày là xin thay đổi về phần lãi suất là chỉ yêu cầu bà Thạch Thị Pha N trả nợ gốc còn nợ là 9.159.306 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.840.000 đồng, lãi quá hạn 10.795. 768 đồng là tính đến ngày xét xử (ngày 25/3/2021) và Ngân hàng yêu cầu tính lãi tiếp theo kể từ ngày 26/3/2021 cho đến khi trả xong dư nợ gốc theo hợp đồng tín dụng số 1504-LAV-20131027 đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VC– Chi nhánh BL.
Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm: Hợp đồng tín dụng số 1504-LAV-20131027 ngày 07/9/2013 (BL14-15); Hợp đồng tín dụng kiêm khế trả nợ (BL13); bảng kê tính lãi tiền vay ngày 25/5/2020 (BL38-39); Bảng kê tính lãi tiền vay ngày 10/11/2020 (BL128-129); Bảng kê tính lãi tiền vay ngày 01/12/2020 (BL115); Giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của bà Thạch Thị Pha N (Bl29-37); giấy đề nghị xác nhận mức lương (BL10); Danh sách cán bộ công chức vay vốn (BL11); Giấy cam kết bảo lãnh trả thay (BL12); Giấy ủy quyền số 22/2020/EIB.BL.QUQ ngày 21/01/2020 (BL18); Giấy ủy quyền số 258/2018/EIB.BL.TGĐ ngày 28/12/2018 (BL19); Thông báo mẫu chữ ký (BL20); Quyết định bổ nhiệm Tổng Giám đốc (BL21); Quyết định bổ nhiệm Giám đốc chi nhánh đề ngày 02/4/2013 (BL22); Thông báo thay đổi mẫu con dấu đề ngày 21/7/2017 (BL23); Quyết định thành lập chi nhánh E (BL24); Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh (BL25); Giấy xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động chi nhánh (BL26); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần (BL27); Giấy chứng minh nhân dân của ông Trương Quốc K (BL28); Bảng kê tính nợ gốc và lãi vay ngày 10/11/2020 (BL128); Bảng kê tính nợ gốc và lãi vay ngày 01/12/2020 (BL115); Bảng kê tính nợ gốc và lãi vay ngày 04/3/2021; Bảng kê tính nợ gốc và lãi vay ngày 25/3/2021.
- Bị đơn đều vắng mặt tại các buổi công khai phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án và tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường Mần non Phường A, thị xã VC tại biên bản lấy khai ngày 18/8/2020 (BL83) người đại diện hợp pháp của Trường Mần non Phường A, thị xã Vĩnh Châu bà Trần Thị Thanh T trình bày: Việc bà Pha N vay tiền của Ngân hàng thì bà T không biết, do lúc đó bà T dưới quyền của bà Pha N, việc Ngân hàng yêu cầu bà Pha N trả nợ, nếu bà Pha N không trả hoặc trả không đầy đủ thì đề nghị Trường Mầm non phường A, thị xã VC trả thay thì bà T không đồng ý, lý do bản cam kết trả nợ thay là bà Pha N tự ký không có thông qua họp Ban giám hiệu trường lại để trao đổi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị Mỹ H trình bày tại biên bản lấy khai ngày 18/8/2020 (BL88) và tại phiên tòa: Trước đây bà H làm Chủ tịch Công đoàn ở trường Mầm non phường A, thị xã VC, khi bà Pha N vay tiền của Ngân hàng thì bà có biết, khi đó bà H dưới quyền của bà Pha N, nên khi bà Pha N kêu ký vào giấy cam kết (bảo lãnh trả nợ thay) thì bà H có ký vào với tư cách là Chủ tịch Công đoàn, ký là để đủ điều kiện cho bà Pha N vay tiền của Ngân hàng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Pha N, Trường Mầm non phường A, thị xã VC, bà Mỹ H biết và Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bà Pha N, người đại diện hợp pháp Trường Mầm non phường A, thị xã Vĩnh Châu, bà Mỹ H hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Pha N, người đại diện hợp pháp của trường Mầm non phường A, thị xã VC bà Mỹ H đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, sau đó đã thông báo cho bà Pha N, người đại diện hợp pháp của Trường Mầm non phường A, thị xã VC, bà Mỹ H biết kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Đồng thời, Tòa án cũng ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bà Pha N, người đại diện hợp pháp của trường Mầm non phường A, thị xã VC cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đúng pháp luật, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Thạch Thị Pha N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN (E) số tiền còn nợ là 23.795.074 đồng (trong đó nợ gốc 9.159.306 đồng, nợ lãi trong hạn 3.840.000 đồng, nợ lãi quá hạn 10.795.768 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của hợp đồng tín dụng số 1504 – LAV – 201301027 kể từ ngày 26/3/2021 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Không chấp nhận việc trả nợ thay khi bà Pha N không có khả năng trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì buộc Trường Mầm non phường A, thị xã VC đứng ra trả thay. Quyết định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm đối với đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Thạch Thị Pha N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường Mầm non phường A, thị xã VC đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Việc bà Pha N, người đại diện hợp pháp Trường Mầm non phường A, thị xã VC vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Pha N, người đại diện hợp pháp Trường Mầm non, phường A, thị xã VC.
[A] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VC chi nhánh BL có ký Hợp đồng tín dụng với bên vay bà Thạch Thị Pha N cho bà Pha N vay tiền với mục đích mua sắm trang thiết bị nhà cửa và vật dụng trong gia đình. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Pha N trả nợ không đúng kỳ hạn như thỏa thuận nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Pha N trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN với bị đơn Thạch Thị Pha N là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ cư trú ở phường A, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN về việc yêu cầu Pha N trả tiền vay còn nợ tính đến ngày 5/3/2021. Tổng cộng là 23.795.074 đồng (bao gồm tiền vốn gốc là 9.159.306 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.840.000 đồng, tiền lãi quá hạn 10.795.768 đồng), do sau khi vay bà Pha N đã trả tiền được 94.581.897 đồng, Hội đồng xét xử thấy: Theo hợp đồng tín dụng đã ký ngày 07/9/2013 và Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 1504 – LDS – 201301296 thì bà Pha N nhận tiền vay của Ngân hàng là 80.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 ngày tính từ ngày 07/9/2013 đến ngày 07/9/2017 là đáo hạn, thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 9,6%/năm (tính theo dư nợ ban đầu) và lãi suất quá hạn là 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, tính trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, không có thế chấp tài sản để bảo đảm khoản vay. Bà Pha N chỉ trả được số tiền nêu trên thì bà Pha N không trả nữa, nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và khoản nợ vay này đã chuyển sang nợ quá hạn. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để Tòa chấp nhận buộc bị đơn trả số tiền vay còn nợ cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Pha N có nghĩa vụ trả số tiền vay còn nợ Tổng cộng là 23.795.074 đồng (bao gồm tiền vốn gốc là 9.159.306 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.840.000 đồng, tiền lãi quá hạn 10.795.768 đồng) và xin thay đổi lại phần lãi trong hạn và quá hạn, xét thấy việc thay đổi của nguyên đơn là không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với yêu cầu của nguyên đơn nếu bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ thì yêu cầu Tòa án buộc Trường Mầm non phường A, thị xã VC trả thay. Thấy rằng việc bà Pha N ký vào giấy cam kết bảo lãnh trả nợ thay là không có cơ sở để chấp nhận, vì việc vay tiền là của cá nhân bà Pha N không phải của cơ quan, tổ chức nên không có quyền trích tiền từ ngân sách của Trường Mầm non phường A, thị xã VC để trả nợ thay cho bà Pha N được, do đó yêu cầu này của Ngân hàng Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường Mầm non phường A, thị xã VC trình bày thấy rằng việc vay tiền và trả nợ là cá nhân của bà Pha N, thời điểm bà Pha N ký vào giấy cam kết đang giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường Mầm non nên đã tự ý ký vào giấy cam kết là không đúng quy định, bà Pha N tự vay tiền và tự định đoạt nếu mình không trả được nợ thì nhà trường trả nợ thay cho mình, do đó người đại diện hợp pháp của Trường Mầm non phường A trình bày là Trường Mầm non phường A không đồng ý trả nợ thay cho bà Pha N là có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Không chấp nhận việc bà Pha N không trả được nợ, hoặc nợ trả không đầy đủ thì buộc Trường Mần non phường A, thị xã VC trả thay.
Toàn bộ quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày tiếp theo, ngày 26/3/2021 bà Thạch Thị Pha N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 1504-LAV-20131027 đã ký ngày 07/9/2013 đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Thạch Thị Pha N có nghĩa vụ chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 23.795.074 đồng x 5% = 1.189.753 đồng (một triệu một trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho đương sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Điều 7, khoản 1 Điều 8, Điều 10, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ vào khoản A Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN đối với bị đơn bà Thạch Thị Pha N.
Buộc bà Thạch Thị Pha N có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN, tính đến ngày 25/3/2021 bao gồm các khoản sau:
- Nợ gốc: 9.159.306 đồng (chín triệu một trăm năm mươi chín nghìn ba trăm lẻ sáu đồng).
- Tiền lãi trong hạn: 3.840.000 đồng (ba triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Tiền lãi quá hạn: 10.795.768 đồng ( mười triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi tám đồng ).
Tổng cộng: 23.795.074 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo, ngày 26/3/2021 bà Thạch Thị Pha N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng 1504-LAV-20131027 đã ký ngày 07/9/2013 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Thạch Thị Pha N có nghĩa vụ chịu tiền án phí sơ thẩm là 1.189.753 đồng (một triệu một trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng).
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu VN được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.156.418 đồng (một triệu một trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm mười tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003988 ngày 28/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
3. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho đương sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA); - VKSND thị xã VC; - Đương sự; - Chi cục THADS thị xã VC; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Chiêu Hùng |