vanban.org

Bản án 13/2020

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A Ph: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ là ngày 30/10/2019. Về Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tẩn A Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 13/2020/HS-ST
Ngµy: 10/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Ngoãn.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Xuân Chản, Ông Tẩn A Sếnh.

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà : Ông Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo: Tẩn A Ph; tên gọi khác: không; sinh năm 1984 tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản Tr X, xã T Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tẩn Lao U và con bà Lý Mý Ph (tên gọi khác Chẻo Mý Ph); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 28 tháng 01 năm 2019, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 10 tháng tù, về tội : “Trộm cắp tài sản”, tính đến ngày 09 tháng 10 năm 2019 bị cáo phạm tội mới khi chưa được xoá án tích; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10 tháng 10 năm 2019 đến ngày 19 tháng 10 năm 2019 thì được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 30 tháng 10 năm 2019, bị cáo tiếp tục phạm tội và bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 10 năm 2019, tạm giam từ ngày 08 tháng 11 năm 2019 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu cho đến nay, có mặt.

* Người bị hại:

- Chẻo Lù P, sinh năm: 1997; trú tại: bản Tr X, xã T Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

- Tẩn Lưu M, sinh năm: 1996; trú tại: bản Tr X, xã T Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

- Hà Văn H, sinh năm: 1984; trú tại: kh4, thtr S H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

- Nguyễn Thị L, sinh năm: 1985; trú tại: kh 4, th tr S H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Tẩn Páo M, sinh năm: 1967; trú tại: bản D, thtr S H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

* Người bào chữa cho bị cáo: ông Phan Văn Nh là Luật sư, Công tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 09/10/2019 đến ngày 30/10/2019, Tẩn A Ph sinh năm 1984, trú tại bản Tr X, xã T Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã hai lần thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 09/10/2019, Tẩn A Ph một mình đi đến nhà Chẻo yêu C sinh năm 1978, trú cùng bản để hỏi xin việc làm. Ph đi vào theo lối cửa bếp, vào trong nhà không thấy có người lớn mà chỉ có một cháu bé khoảng 10 tuổi đang ngồi học bài ở bàn uống nước phòng khách nên Ph nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ph đi vào buồng ngủ của hai vợ chồng Chẻo Lù P sinh năm 1997 và Tẩn Lưu M sinh năm 1996 (con trai và con dâu của C) thấy điện sáng nhưng không có người ở trong phòng. Nhìn thấy có một chiếc hòm tôn ở góc phòng ngủ không khoá nên Phù mở nắp hòm, lấy trộm toàn bộ quần áo ( trang phục của người phụ nữ dân tộc Dao) của hai vợ chồng Chẻo Lù P và Tẩn Lưu M để trong hòm rồi đi ra ngoài. Khi ra ngoài khoảng 100 mét, Phù dừng lại và giật lấy dây trang trí trong số quần áo đã lấy trộm được để cuốn tất cả quần áo đó rồi đi theo đường bê tông ra khỏi bản Tr X, xã T Ph, huyện S H để chờ trời sáng mang đi bán lấy tiền. Đến sáng ngày 09/10/2019, Ph mang toàn bộ số quần áo trộm cắp được đến bản D, thtr S H để bán lấy tiền, khoảng 6 giờ cùng ngày, khi đến bản Dao, thị trấn Sìn Hồ thị gặp Tẩn Páo M, sinh năm 1967, trú tại bản Tr X, xã T Ph, huyện Sìn Hồ đang đứng ở trước cửa nhà, Ph hỏi M “ Chị có mua quần áo không ? ” Mẩy trả lời là để M kiểm tra xem nếu mua được thì Mẩy mua. M mở ra xem thì thấy toàn bộ đều là trang phục truyền thống của người phụ nữ dân tộc Dao, bao gồm: 02 tấm vải màu đen; 02 cái áo, trong đó 01 cái được đính 06 sợi dây trang trí bằng bạc; 01 được cái được đính 05 sợi dây trang trí bằng bạc; 01 cái quần và 01 bộ dây trang trí. Sau khi thoả thuận thống nhất giá cả, Tẩn Páo M mua toàn bộ số tài sản trên với giá 800.000 đồng (tám trăm nghàn đồng), Ph bán số tài sản trộm cắp được cho M, Ph nhận tiền rồi đi về nhà Ph ngủ. Phát hiện bị mất tài sản, gia đình Chẻo Yếu C nghi ngờ Tẩn A Ph là người trộm cắp nên đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã mời Tẩn A Ph đến làm việc và Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình Chẻo Yếu C. Khám xét khẩn cấp trên người của Tẩn A Ph, Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải Ph đang mặc số tiền 800.000 đồng do Ph bán số tài trộm cắp mà có. Ngày 19/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã ra Quyết định khởi tố cấm vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Tẩn A Ph về tội Trộm cắp tài sản.

Lần thứ hai: Buổi tối ngày 29/10/2019 Tẩn A Ph một mình mang theo 01 đèn Pin, đi bộ đến khu vực chợ thị trấn Sìn Hồ thuộc khu 4, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ với mục đích tìm nếu có tài sản của ai mà để sơ hở thì trộm cắp mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Đến gần sáng ngày 30/10 2019, Ph lục vào một thùng rác ở vỉa hè thì thấy có 02 bao tải xác rắn màu cam, Phù lấy 02 bao tải này với mục đích nếu trộm được thứ gì thì cho vào bao tải. Khoảng 05 giờ cùng ngày, Phù đi vào khu chăn nuôi gà của gia đình Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 trú tại kh 4, th tr S H, huyện Sìn Hồ, soi đèn Pin vào thấy có gà ở trong chuồng, cửa chuồng không khoá nên Ph bắt trộm 05 con gà (gồm có 02 con gà trống và 03 con gà mái) cho vào bao tải rồi mang đến khu vực Trạm xăng dầu thuộc khu 5, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ để đón xe khách mang đi bán lấy tiền. Khoảng 06 giờ cùng ngày, L ra cho gà ăn thì phát hiện gia đình bị mất trộm 05 con gà trong chuồng nên gọi điện thoại cho anh Hà Văn H, sinh năm 1984 trú tại kh4, thtr S H (chồng Nguyễn Thị L) cùng tìm kiếm. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Hà Văn Hùng điều khiện xe ô tô chở khách từ thị trấn Sìn Hồ đi thành phố Lai Châu đến khu vực Trạm xăng dầu thuộc khu 5, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ, Ph mang bao tải gà trộm cắp được lên xe mang đi tiêu thụ thì bị H phát hiện đó chính là gà của gia đình mình bị mất nên H đưa Ph cùng vật chứng đến trụ sở Công an huyện Sìn Hồ trình báo và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 30 ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Sìn Hồ kết luận: Tổng số tài sản mà Tẩn A Ph trộm cắp bao gồm: 01 áo truyền thống của người dân tộc Dao có gắn 06 dây trang trí bằng bạc; 01 áo truyền thống của người dân tộc Dao có gắn 05 dây trang trí bằng bạc; 01 chiếc quần truyền thống của người dân tộc Dao, 02 cuộn vải đen và 04 dây trang trí bằng bạc có tổng giá trị là 6.380.000 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại Bản Kết luận giám định số 465/ GĐ- KTHS ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: số tiền 800.000 bao gồm 06 tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000 đồng và 04 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật.

Tại Bản Kết luận giám định số 6798/ C09- P4 ngày 26 tháng 10 năm 2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Các hạt cườm và đồng xu được gắn trên các chùm trang trí, mỗi dây đều có 01 ống dạng xoắn màu đen, 01 hạt cườm bằng kim loại trắng và 01 đồng xu bằng kim loại màu trắng có chữ số “10 CET”, trên mỗi đồng xu có 04 móc bằng kim loại, 03 móc phía dưới đồng xu được đính kèm ba chuỗi hạt nhựa màu trắng, đen, dây chỉ màu đỏ gửi giám định là hợp kim của Bạc (Ag) và đồng (Cu) trong đó:

- Các hạt cườm có hàm lượng trung bình Ag: 75,06 %, Cu: 24%.

- Các đồng xu có hàm lượng trung bình Ag: 70,77 %, Cu: 29,23%.

Biên bản cân tịnh khối lượng ngày 30/10/2019: 05 con gà (03 con gà mái và 02 con gà trống) do Tẩn A Ph đã trộm cắp có tổng khối lượng là 10,4 kg.

Bản Kết luận định giá tài sản số 32 ngày 05 tháng 11 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Sìn Hồ, kết luận: 05 con gà có tổng khối lượng 10,4 kg do Tẩn A Ph trộm cắp có tổng giá trị là 792.000 đồng (bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS-SH ngày 06 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Tẩn A Ph về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị can Tẩn A Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Ngày 01/9/2019 bị cáo chấp hành xong bản án trở về địa phương sinh sống, đến ngày 09/10/2019 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản bị xâm phạm là 6.380.000 đồng. Ngày 30/10/2019, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản bị xâm phạm là 792.000 đồng. Cả hai lần thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích. Lần phạm tội ngày 30/10/2019, giá trị tài sản bị xâm phạm là 792.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng), bị cáo bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra, ngày 25/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã quyết định số 01, quyết định nhập 02 vụ án hình sự (vụ án hình sự số 36 ngày 19/10/2019 và vụ án hình sự số 38 ngày 08/11/2019) thành một vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự để điều tra, xử lý đối với bị cáo Tẩn A Phù. Bị cáo Tẩn A Ph chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản bị xâm phạm của cả hai lần là 7.172.000 đồng. Do vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (phạm tội hai lần trở lên). Căn cứ điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về phần trách nhiệm dân sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết; xét thấy hoàn cảnh bị cáo khó khăn, khó có khả năng thi hành hình phạt tiền nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự; về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên: Tịch thu, tiêu huỷ hai bao tải màu cam, nhãn hiệu URAE madein Indonesia cũ, đã qua sử dụng; một đèn Pin màu đen, kí hiệu GW-1166 cũ, đã qua sử dụng. Đây là công cụ phạm tội do không còn giá trị sử dụng; Đối với số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng), quá trình điều tra xác định được, đó là số tiền do Tẩn A Ph bán trang phục truyền thống của người dân tộc Dao trộm cắp được cho chị Tẩn Páo M, khi trao đổi mua bán, M không biết số trang phục trên là tài sản do Tẩn A Ph trộm cắp mà có, việc mua bán giữa Ph với Tẩn Páo M là ngay tình. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 47 và khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại số tiền 800.000 đồng Tẩn Páo M là chủ sở hữu hợp pháp;

Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hoá 0/12, do không được học hành nên sự hiểu biết pháp luật của bị cáo còn có nhiều hạn chế, bị cáo lao động tự do nên không có công ăn việc làm ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự; về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật; về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Những người bị hại: Tẩn Lưu M, Chẻo Lù P, Hà Văn H, Nguyễn Thị L đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa và yêu cầu bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tẩn Páo M có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với bị cáo. Trong đơn Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Tẩn Páo M trình bày số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ tạm giữ là số tiền Tẩn A Ph bán trang phục truyền thống của người dân tộc Dao do trộm cắp được cho bà Tẩn Páo Mẩy mà có. Khi trao đổi mua bán, bà Tẩn Páo M không biết số trang phục trên là do Tẩn A Ph trộm cắp mà có, việc mua bán giữa Phù với bà Tẩn Páo M là ngay tình. Do đó bà Tẩn Páo M đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại số tiền 800.000 đồng cho chị Tẩn Páo M là chủ sở hữu hợp pháp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với nội dung hồ sơ vụ án thể hiện:

Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại nhà Chẻo Yếu C trú tại bản TrX, xã T Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tẩn A Ph trộm cắp trang phục truyền thống của người phụ nữ dân tộc Dao, bao gồm: 02 tấm vải màu đen; 02 cái áo, trong đó 01 cái được đính 06 sợi dây trang trí bằng bạc; 01 được cái được đính 05 sợi dây trang trí bằng bạc; 01 cái quần và 01 bộ dây trang trí. Tổng giá trị tổng giá trị là 6.380.000 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) của hai vợ chồng Chẻo Lù P và Tẩn Lưu M trú tại bản Tr X, xã T Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu rồi đem đi bán toàn bộ số tài sản trên cho Tẩn Páo M sinh năm 1967, trú tại bản D, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ lấy 800.000 đồng (tám trăm nghàn đồng) tiêu xài cá nhân.

Lần thứ hai: Khoảng 05 giờ, ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại khu 4, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ. Tẩn A Ph bắt trộm 05 con gà (gồm có 02 con gà trống và 03 con gà mái) tổng khối lượng là 10,4 kg, có tổng giá trị là 792.000 đồng (bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng) của gia đình Hà Văn H sinh năm 1984 và vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 trú tại kh 4, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ mang đến khu vực Trạm xăng dầu thuộc khu 5, thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ đón xe khách mang đi tiêu thụ thì bị chủ tài sản Hà Văn H phát hiện, bắt quả tang và bàn giao cho Cơ quan Công an huyện Sìn Hồ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo Tẩn A Ph là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách bất hợp pháp, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm Hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham hưởng thụ, không chịu lao động sản xuất. Bị cáo với thủ đoạn lợi dụng trong thời gian không có người ở trong phòng và sự sơ hở của Người bị hại, Bị cáo đã vào nhà của người bị hại một cách trái pháp luật để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là trang phục truyền thống của người phụ nữ dân tộc Dao. Giá trị tài sản bị xâm phạm là 6.380.000 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) của hai vợ chồng Chẻo Lù P và Tẩn Lưu M. Ngoài ra, ngày 30/10/2019 Tẩn A Ph lại tiếp tục lợi dụng thời gian nghỉ ngơi của người bị hại đã thực hiện hành vi trộm cắp 05 con gà (gồm có 02 con gà trống và 03 con gà mái) tổng khối lượng là 10,4 kg, có tổng giá trị là 792.000 đồng (bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng) của gia đình Hà Văn H và vợ là Nguyễn Thị L đều trú tại kh 4, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ mục đích là đi tiêu thụ lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cả hai lần trộm cắp tài sản, bị cáo Tẩn A Ph đều có mục đích chung là mang các tài sản đã trộm cắp được đi bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 28/01/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 01/9/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống nhưng chưa được xóa án tích. Đến ngày 09/10/2019 bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản bị xâm phạm là 6.380.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi được tại ngoại để điều tra, ngày 30/10/2019 bị cáo lại tiếp tục trộm cắp tài sản, giá trị tài sản bị xâm phạm là 792.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng), bị cáo bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, ngày 25/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã ra quyết định số 01, quyết định nhập 02 vụ án hình sự (vụ án hình sự số 36 ngày 19/10/2019 và vụ án hình sự số 38 ngày 08/11/2019) thành một vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự để điều tra, xử lý đối với bị cáo Tẩn A Ph. Tổng giá trị tài sản bị xâm phạm của cả hai lần bị cáo trộm cắp là 7.172.000 đồng. Do vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (tái phạm) nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (phạm tội hai lần trở lên).

Về tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ, bị cáo không được học hành do vậy sự hiểu biết pháp luật của bị cáo còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ: 02 bao tải màu cam, nhãn hiệu URAE madein Indonesia cũ, đã qua sử dụng; 01 đèn Pin màu đen, kí hiệu GW-1166 cũ, đã qua sử dụng, đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do không còn giá trị sử dụng;

Đối với số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) trong đó 06 tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000 đồng và 04 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng. Quá trình điều tra xác định được, đó là tiền do Tẩn A Ph bán trang phục truyền thống của người dân tộc Dao trộm cắp được cho chị Tẩn Páo M. Khi trao đổi mua bán, Tẩn Páo M không biết số trang phục trên là tài sản do Tẩn A Ph trộm cắp mà có, việc mua bán giữa Phù với Tẩn Páo M là ngay tình. Do đó, lại số tiền 800.000 đồng cho chị Tẩn Páo M là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 02 tấm vải màu đén, trong đó: 01 tấm kích thước 4,66m x 0,36 m và 01 tấm kích thước 5,06m x 0,32 m; 01 chiếc quần dài màu đen, có nhiều hoa văn, chiều dài 0,87, ống quần rộng 0,21 m; 01 chiếc áo dài màu đen, có nhiều hoa văn, trên viền áo và cổ áo, phía sau cổ áo có gắn 05 dây trang trí, trong đó mỗi dây gồm một ống xoắn màu đen, một hạt cườm bằng kim loại trắng và 01 đồng xu bằng kim loại màu trắng ký hiệu “10 CENT”, trên mỗi đồng xu có 04 móc bằng kim loại màu trắng, 03 móc phía dưới đồng xu được đính kèm ba chuỗi hạt nhựa màu trắng và đen, dây màu đỏ, tổng chiều dài áo là 1,3m; 01 chiếc áo dài màu đen, có nhiều hoa văn, trên viền áo và cổ áo, phía sau cổ áo có gắn 06 dây trang trí, trong đó mỗi dây gồm một ống xoắn màu đen, một hạt cườm bằng kim loại trắng và 01 đồng xu bằng kim loại màu trắng ký hiệu “10 CENT”, trên mỗi đồng xu có 04 móc bằng kim loại màu trắng, 03 móc phía dưới đồng xu được đính kèm ba chuỗi hạt nhựa màu trắng và đen, dây màu đỏ, tổng chiều dài áo là 1,32 m; 04 dây trang trí, trong đó mỗi dây gồm một ống xoắn màu đen, một hạt cườm bằng kim loại trắng và 01 đồng xu bằng kim loại màu trắng ký hiệu “10 CENT”, trên mỗi đồng xu có 04 móc bằng kim loại màu trắng, 03 móc phía dưới đồng xu được đính kèm ba chuỗi hạt nhựa màu trắng và đen, dây màu đỏ, chiều dài mỗi dây là 0,4 m (đều là trang phục truyền thống của người dân tộc Dao). Đây là tài sản do Tẩn A Ph đã trộm cắp của hai vợ chồng Chẻo Lù P và Tẩn Lưu M vào ngày 09 tháng 10 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã trả lại tài sản trên cho người bị hại là hai vợ chồng Chẻo Lù P và Tẩn Lưu M nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 05 con gà có tổng khối lượng 10,4kg, đây là tài sản do Tẩn A Ph đã trộm cắp của gia đình chị Nguyễn Thị L vào ngày 30 tháng 10 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã trả lại tài sản trên cho người bị hại là chị Nguyễn Thị L nên không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xét gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và những người liên quan: Thông qua vụ án này, đề nghị chính quyền địa phương xã Tả Phìn, huyện Sìn Hồ nơi bị cáo Tẩn A Ph đang cư trú cần nâng cao công tác tuyên truyền ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân; ưu tiên tạo công ăn việc làm, tạo mọi điều kiện cho vay vốn đối với những người dân không có công việc ổn định để họ có điều kiện phát triển kinh tế. Ngoài ra cần có các biện pháp phòng ngừng, tăng cường đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội trên địa bàn; quản lý chặt chẽ nhân hộ khẩu trên địa bàn, cảnh giác đề phòng bảo vệ tài sản của công dân, của tổ chức và tài sản của Nhà nước trên địa bàn và có các biện pháp bảo vệ giữ gìn trật tự an ninh xã hội.

Đối với Tẩn Páo M sinh năm 1967, trú tại bản Tr X, xã T Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu là người mua toàn bộ trang phục của người phụ nữ dân tộc Dao do bị cáo Tẩn A Ph trộm cắp được mà có. Tuy nhiên, quá trình trao đổi mua bán số tài sản nêu trên M không biết đó là tài sản do Ph trộm cắp mà có nên Tẩn Páo M không phạm tội.

Đối với việc gia đình người bị hại Tẩn Lưu M trình báo, ngoài các tài sản trên, gia đình còn bị mất 02 chiếc áo trẻ em (kiểu áo truyền thống của người dân tộc Dao). Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, không đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh Tẩn A Ph là người đã lấy trộm 02 chiếc áo đã nêu trên nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, Điều 136, Điều 331,Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A Ph: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ là ngày 30/10/2019.

3. Về Xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu huỷ: Hai bao tải màu cam, nhãn hiệu URAE madein Indonesia; một đèn Pin màu đen, kí hiệu GW-1166 (đều cũ, đã qua sử dụng).

Trả lại cho Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Tẩn Páo M số tiền 800.000 đồng.

4. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

5. Án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10 tháng 6 năm 2020); Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

7. Về biện pháp ngăn chặn:

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10 tháng 6 năm 2020).

Cỡ chữ