vanban.org

Bản án 13/2020/LĐ-PT — Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương...

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/05/2020 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Hoàng A về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” với Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam).

Về án phí: Bà Hồ Hoàng A thuộc trường hợp được miễn án phí lao động sơ thẩm, phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Bà Hồ Hoàng A kiện Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Hoàng A về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” với Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam).
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Lao động; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị định số 05/2013/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/LĐ-PT
Ngày: 27/5/2020
V/v: Tranh chấp đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Toàn

Ông Trần Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tám – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh ĐN.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh ĐN tham gia phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh ĐN xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 15/2020/TLPT-LĐ ngày 14/2/2020 về việc: “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do bản án lao động sơ thẩm số 32/2019/LĐ-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2020/QĐ-PT ngày 09 tháng 3 năm 2020; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 23/3/2020, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 05/TB-TA ngày 01/4/2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 12/2020/QĐ-PT ngày 27/4/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Hoàng A, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số nhà 59/5, khu phố 1, phường QV, thành phố BH, tỉnh ĐN.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Dương Thị Th, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số 14, đường HCM, phường HB, thành phố BH, tỉnh ĐN.

- Bị đơn: Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam).

Địa chỉ: 201/2, đường 7A, KCN LB, thành phố BH, tỉnh ĐN.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng M.

Địa chỉ: 448D, NTT, phường 18, Quận 4, Thành phố HCM. (Văn bản ủy quyền ngày 01/4/2020)

(Bà Th, bà M có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Hồ Hoàng A do bà Dương Thị Th đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Hồ Hoàng A được Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam) nhận vào làm việc từ ngày 14/01/2008 theo loại hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm. Hết hạn hợp đồng, công ty cho bà A ký tiếp hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm. Khi hợp đồng lao động thứ nhất chấm dứt, phía công ty cho bà A ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn có hiệu lực từ ngày 01/03/2010. Theo hợp đồng lao động này thì công việc phải làm của bà A là Trợ lý giám đốc, mức lương trước khi nghỉ việc là 31.623.000đ. Do thời gian lâu ngày nên hợp đồng thứ nhất của bà A đã bị thất lạc, hiện bà A chỉ còn giữ 02 bản hợp đồng lao động cuối cùng ký vào năm 2009 và 2010.

Trong quá trình làm việc, bà A luôn hoàn thành nhiệm vụ, nhưng vào ngày 20/2/2019, Công ty ban hành Quyết định số 08003/QĐTV chấm dứt hợp đồng lao động với bà A kể từ ngày 20/2/2019. Với lý do: Thay đổi cơ cấu theo Điều 44 Bộ luật lao động năm 2012.

Nhận thấy, việc Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bà A là không đúng quy định của pháp luật lao động nên bà đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án BH giải quyết buộc Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam) phải:

1/Hủy quyết định số 08003/QĐTV ngày 20/02/2019 về việc chấm dứt Hợp đồng lao động với bà A kể từ ngày 20/02/2019.

2/Nhận bà A trở lại làm việc theo quy định.

3/Trả tiền lương từ ngày 20/02/2019 đến ngày công ty nhận trở lại làm việc tạm tính đến ngày 26/11/2019 là 9 tháng 06 ngày: 31.623.000đ x 9 tháng + (31.623.000đ : 26 ngày x 6 ngày) = 291.905.000đ.

4/Bồi thường 02 tháng tiền lương là 02 tháng x 31.623.000đ = 63.246.000đ.

5/ Đóng BHXH và BHYT cho bà A theo quy định từ ngày 20/02/2019 đến ngày công ty nhận trở lại làm việc, tạm tính đến ngày 26/11/2019 là 09 tháng: 9 tháng x 21,5% x 31.623.000đ = 61.190.000đ.

6/Trường hợp công ty không nhận bà A trở lại làm việc thì phải bồi thường ít nhất 02 tháng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 42 Bộ luật lao động là 02 tháng x 31.623.000đ = 63.246.000đ.

Tổng số tiền bà A yêu cầu là 479.587.000đ.

Bà A không đồng ý làm công việc mới mà theo Công ty hiện nay còn đang tyển dụng và đã từng đề xuất để sắp xếp cho bà Hồ Hoàng A là Trưởng trợ lý kinh doanh.

Bị đơn Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam) do bà Lê Hoài VA đại diện theo ủy quyền trình bày:

Lý do Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam) ban hành Quyết định số 08003/QĐTV ngày 20/2/2019 chấm dứt Hợp đồng lao động với bà Hồ Hoàng A là do Công ty thay đổi cơ cấu theo quy định tại Điều 44 Bộ luật lao động. Về căn cứ thực tế để ban hành Quyết định nghỉ việc thể hiện:

Vào ngày 16/7/2018, Ban giám đốc để ban hành DS Chemical (Việt Nam) phải lập cuộc họp quan trọng, chính thức theo yêu cầu của nhà đầu tư, DS Chemical CO.Ltđ (Hàn Quốc) để bàn bạc, tìm phương án hiệu quả giải quyết các vấn đề làm giảm nghiêm trọng lợi nhuận của DS như sau:

- Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2018 chỉ dạt 70% kế hoạch đề ra;

- Chi phí lương của bộ phận xuất nhập khẩu gồm 5 người khá cao (65.000.000 đồng/tháng) và liên quan đến nhiều yếu tố pháp lý trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, nhưng lại không có quy chế rõ ràng trong việc yêu cầu nhân viên chịu trách nhiệm khi sai sót trong nghiệp vụ trong thời gian dài, khó truy tìm nguyên nhân lỗi, dẫn đến nhiều rủi ro pháp lý trong tương lai, chẳng hạn như công ty sẽ khó tránh khỏi việc bị phạt vi phạm khi bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra.

- Bộ phận xuất nhập khẩu phối hợp làm việc với các bộ phận liên quan như Phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng mua hàng chưa hiệu quả và nghiệp vụ xuất nhập khẩu chưa chuyên sâu, chưa cập nhật kịp thời các thay đổi thường xuyên trong lĩnh vực pháp lý hải quan dẫn đến nhiều sai sót tích dồn trong nhiều năm và chỉ bị phát hiện khi có Quyết định kiểm tra, thanh tra sau thông quan của Cục Hải quan. Điều này khiến cho Dong sung phải gánh chịu rủi ro pháp lý và hậu quả tài chính rất khó khắc phục và rất khó truy cứu trách nhiệm cho nhân viên. Cụ thể là vào ngày 3/11/2017 DS đã phải chịu nộp phạt 938.073.000 đồng theo QĐ số 1738 QĐ-HQĐNa của Cục Hải quan tỉnh ĐN về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

- DS vừa có bộ phận xuất nhập khẩu trong công ty vừa có công ty dịch vụ thuê ngoài sẽ dễ phát sinh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và khó truy cứu trách nhiệm bồi thường khi bị phạt vi phạm trong lĩnh vực hải quan.

Căn cứ Biên bản họp Ban Giám đốc điều hành số BBH 01/2018, ngày 16/07/2018 với tỷ lệ biểu quyết 100% tán thành thông qua phương án thay đổi cơ cấu của DS nhằm giải quyết các vấn đề nêu tại điểm 1, cụ thể là:

+ Giải thể bộ phận xuất nhập khẩu;

+ Các công việc đang được đảm trách của bộ phận xuất nhập khẩu sẽ được tách ra, một phần việc sẽ được kiêm nhiệm bởi các bộ phận (như kế toán, kinh doanh…) mà từ trước giờ đã từng phối hợp làm việc với bộ phận xuất nhập khẩu, nên đã hiểu và quen với công việc của bộ phận này; còn đa phần công việc có liên quan đến các nghiệp vụ phải làm việc trực tiếp với các cơ quan hải quan của nhà nước thì sẽ thuê Công ty cung cấp dịch vụ xuất nhập khẩu bên ngoài thực hiện; đặc biệt ưu tiên chọn thuê Công ty đã từng có thời gian làm dịch vụ cho DS để dễ thương lượng việc làm thêm công việc của bộ phận xuất nhập khẩu khi bộ phận này đã giải thể nhưng không bị tính thêm chi phí dịch vụ phát sinh.

+ Ký lại Hợp đồng dịch vụ xuất nhập khẩu với Công ty TNHH MTV Tiếp Vận Toàn Cầu HV theo hướng làm thêm đa phần công việc đang được đảm trách bởi bộ phận xuất nhập khẩu, ràng thêm nghĩa vụ hướng dẫn nghiệp vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu cho các bộ phận đang kiêm nhiệm một số công việc có liên quan khi giải thế bộ phận xuất nhập khẩu, ràng thêm trách nhiệm cao hơn về mặt pháp lý, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu DS bị phạt vi phạm hành chánh trong lĩnh vực hải quan.

+ Giải quyết việc làm mới cho tất cả nhân viên trong bộ phận xuất nhập khẩu phù hợp với nguyện vọng và năng lực của bản thân và theo đúng quy định pháp luật lao động.

Căn cứ pháp lý: Theo khoản 10 điều 36, điều 44 BLLĐ DS đã ra QĐ 01-18/QĐDS về việc giải thể bộ phận xuất nhập khẩu ngày 24/08/2018 vì lý do thay đổi cơ cấu.

- Về trình tự, thủ tục chấm dứt HĐLĐ với Nguyên đơn là bà Hồ Hoàng A: Công ty DS đã thực hiện đúng quy định của điều 44, 46, 47, 49 BLLĐ và điều 7, điều 8 TT 47/2015/TT-BLĐTBXH. Công ty đã gửi Thông báo và Quyết định về việc giải thể cho bộ phận xuất nhập khẩu đồng thời sắp xếp chỗ làm việc mới theo nguyện vọng, năng lực của người lao động với lương và trợ cấp không thay đổi, cụ thể như sau:

Ngày 11/10/2018, DS gửi Thông báo số VDS-05/2018 ban hành ngày 10/10/2018 được bà Hồ Hoàng A ký nhận ngày 11/10/2018 với nội dung DS phải giải thể bộ phận xuất nhập khẩu vì lý do: để cắt giảm chi phí hoạt động, DS đã ký HĐ thuê ngoài, thuê Công ty TNHH MTV Tiếp Vận Toàn Cầu HV thực hiện hầu hết những công việc mà bộ phận xuất nhập khẩu đang đảm trách và yêu cầu tất cả 4 nhân viên trong bộ phận xuất nhập khẩu trong đó có Bà Hồ Hoàng A tự đề xuất vị trí làm việc khác trong DS phù hợp với nguyện vọng và năng lực của bản thân khi bộ phận xuất nhập khẩu không còn trong cơ cấu tổ chức của DS nữa. Tuy nhiên, ngày 18/10/2018, 4 nhân viên trong bộ phận xuất nhập khẩu trong đó có Bà Hồ Hoàng A đã gửi Thư phản hồi nói rõ “không thể tự đề xuất vị trí công việc khác”.

Căn cứ Thư phản hồi từ chối việc được sắp xếp công việc mới theo nguyện vọng nêu trên, DS đã gửi tiếp Thông báo số VDS-06/2018 ban hành ngày 18/10/2018 về việc sắp xếp công việc mới phù hợp với năng lực của nhân viên và nhu cầu của Công ty, cụ thể bà Hồ Hoàng A được chuyển qua làm Trưởng trợ lý kinh doanh với lương và trợ cấp không thay đổi. Ngày 24/10/2018, 4 nhân viên trong bộ phận xuất nhập khẩu trong đó có Bà Hồ Hoàng A lại tiếp tục từ chối việc DS sắp xếp công việc mới và khăng khăng đòi giữ nguyên công việc cũ tại bộ phận xuất nhập khẩu.

Do công việc của bộ phận xuất nhập khẩu một phần đã được kiêm nhiệm bởi các phòng ban có liên quan, phần còn lại đã được thực hiện bởi Công ty dịch vụ thuê ngoài (Công ty TNHH MTV Tiếp Vận Toàn Cầu HV) để cắt giảm chi phí hoạt động, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc và giảm trừ rủi ro pháp lý trong lĩnh vực hải quan, nên buộc phải giải thể bộ phận xuất nhập khẩu, tức trong cơ cấu tổ chức của DS không còn bộ phận xuất nhập khẩu nữa và DS buộc phải thay đổi cơ cấu, sắp xếp chỗ làm việc mới cho người lao động (như đã nêu tại điểm 1). Nhưng vì người lao động kiên quyết từ chối (bằng văn bản) chỗ làm việc mới được sắp xếp, nên Công ty không thể nào giải quyết được việc làm cho người lao động. Chính vì vậy, không còn cách nào khác, Công ty chúng tôi buộc phải thực thi quy định tại khoản 2 điều 44 BLLĐ, cho người lao động trong đó có bà Hồ Hoàng A thôi việc, chi trả trợ cấp mất việc và tiến hành các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của điều 44, 46, 47, 49 Bộ luật lao động và điều 7, điều 8 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH như lập phương án sử dụng lao động, cho NLĐ thôi việc, trả trợ cấp mất việc làm.

Đối với việc trao đổi, bàn bạc, lập Biên bản thỏa thuận với Ban chấp hành Công đoàn – là tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở theo điều 44, 46 Bộ luật lao động, công ty giải trình như sau: Vào ngày 31/10/2018, DS tổ chức cuộc họp với Ban chấp hành Công đoàn để thông qua Phương án sử dụng lao động với 5/7 thành viên đồng ý, 1/7 thành viên không có ý kiến và 1/7 thành viên không đồng ý, tức chỉ có duy nhất Bà Hồ Hoàng A, khi đó đang là Chủ tịch Ban chấp hành Công đoàn không đồng ý. Như vậy, theo điều 7 Điều lệ Công đoàn Việt Nam và Chương 2 khoản 5 Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Ban chấp hành Công đoàn hoạt động theo nguyên tắc tập thể, thiểu số phục tùng đa số, quyết định theo ý kiến của đa số khi có trên 50% số thành viên dự họp tán thành. Do đó, với tỷ lệ biểu quyết đa số tuyệt đối (trên 2/3 số thành viên Ban chấp hành Công đoàn biểu quyết tán thành phương án sử dụng lao động như nêu trên) nên DS được phép thực hiện phương án sử dụng lao động đã được thông qua.

Căn cứ Biên bản họp với Ban chấp hành Công đoàn ngày 31/10/2018 thông qua phương án sử dụng lao động, DS và Ban chấp hành Công đoàn lập Biên bản thỏa thuận ngày 01/11/2018, chấm dứt Hợp đồng lao động với Bà Hồ Hoàng A, Chủ tịch Công đoàn, vì lý do thay đổi cơ cấu. Biên bản thỏa thuận này cũng đạt được tỷ lệ biểu quyết đa số tuyệt đối (trên 2/3 số thành viên BCH Công đoàn biểu quyết tán thành).

- Về nội dung Thông báo bằng văn bản cho các cơ quan quản lý nhà nước về lao động trước khi tiến hành thủ tục chấm dứt Hợp đồng lao động với Người lao động theo điều 44 BLLĐ và Điều 7 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH, công ty đã thực hiện như sau: Ngày 5/11/2018, Công ty DS đã gửi Thông báo (có dấu xác nhận công văn đến) về việc cho Người lao động thôi việc vì lý do thay đổi cơ cấu với đầy đủ nội dung và hồ sơ đính kèm như quy định tại điều 7 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH đến các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cụ thể là: (1) Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh ĐN, (2) Công đoàn khu công nghiệp BH, tỉnh ĐN, (3) Sở Lao động – Thương binh xã hội tỉnh ĐN, và (4) Liên đoàn lao động tỉnh ĐN.

Từ tất cả những quy trình mà công ty đã thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các Văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan, phía công ty DS đã hoàn tất thủ tục chấm dứt HĐLĐ và thanh toán các khoản phải trả cho Bà Hồ Hoàng A khi thôi việc theo điều 47, 49 Bộ luật lao động.

Ngày 10/12/2018, DS gửi Thông báo chấm dứt HĐLĐ số 08003/TBTV cho Bà Hồ Hoàng A (có ký xác nhận) với nội dung sẽ chấm dứt HĐLĐ ngày 20/2/2019 vì lý do thay đổi cơ cấu mà không thể giải quyết được việc làm mới vì NLĐ kiên quyết từ chối (bằng văn bản).

Ngày 20/2/2019, DS ra Quyết định chấm dứt HĐLĐ số 08003/QĐTV với Bà Hồ Hoàng A và chi trả đầy đủ các khoản tiền thôi việc bao gồm:

(1) Tiền lương và phụ cấp lương của tháng cuối cùng làm việc (21 ngày công làm việc của tháng 2/2019 theo mức lương bao gồm phụ cấp là 31.623.000 đồng): 25.757.038 đồng

(2) 02 tháng trợ cấp mất việc làm: 31.623.000 đồng x 2 tháng = 63.246.000 đồng

(3) Hoàn trả bằng tiền 1 ngày nghỉ phép chưa sử dụng của năm 2019: 1.193.192 đồng.

Tổng số tiền đã chi trả nêu trên sau khi trừ đi các khoản mà người lao động phải trả bao gồm thuế thu nhập cá nhân, BHXH, BHYT, BHTN thì số tiền còn lại mà bà Hồ Hoàng A đã thực nhận khi thôi việc là 86.285.150 đồng.

Tất cả những tình tiết và chứng cứ nêu trên đã thể hiện rất rõ: xét về lý do, trình tự thủ tục và các khoản chi trả tài chánh khi chấm dứt Hợp đồng lao động với bà Hồ Hoàng A, đều đã hoàn toàn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về lao động; do vậy, phía công ty DS yêu cầu quý Tòa án BH bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Hoàng A.

Bản án số 32/2019/LĐ-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Hoàng A về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” với Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam).

Về án phí: Bà Hồ Hoàng A thuộc trường hợp được miễn án phí lao động sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngày 27/11/2019 chị Dương Thị Th – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ĐN phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung kháng cáo: Nhận thấy bộ phận xuất nhập khẩu của công ty với chi phí lương cao nhưng hiệu suất công việc đạt được không tương xứng, nhiều sai sót nghiệp vụ trong thời gian dài nhưng không có quy chế rõ ràng để yêu cầu nhân viên chịu trách nhiệm, khó truy tìm nguyên nhân lỗi dẫn đến rủi ro pháp lý trong tương lai. Do đó ban giám đốc công ty đã quyết định thay đổi cơ cấu của công ty, giải thể bộ phận xuất nhập khẩu. Để tạo điều kiện thuận lợi cho bộ phận xuất nhập khẩu, Công ty đã đề nghị bà Hồ Hoàng A và các nhân viên bộ phận này tự đề xuất vị trí khác trong công ty phù hợp với nguyện vọng và năng lực của bản thân nhưng ngày 18/10/2018 bà Hoàng A và các nhân viên trong bộ phận này đã có phản hồi là “không thể tự đề xuất vị trí công việc khác”. Ngày 18/10/2018, công ty có văn bản sắp xếp công việc mới cho bà Hồ Hoàng A làm trưởng phòng trợ lý kinh doanh với mức lương và phụ cấp không đổi. Qua đó nhận thấy công ty đã có thiện chí nhưng bà Hoàng A và các nhân viên bộ phận xuất nhập khẩu từ chối công việc và chỉ muốn giữ nguyên công việc cũ tại bộ phận xuất nhập khẩu nhưng thực tế bộ phận này đã giải thể.

Do đó, công ty đã tiến hành họp ban chấp hành công đoàn cơ sở vào ngày 31/10/2018 thông qua phương án sử dụng lao động với đa số biểu quyết đồng ý. Công ty đã thông báo bằng văn bản cho các cơ quan quản lý nhà nước về lao động cụ thể là Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh ĐN, Công đoàn khu công nghiệp BH, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động tỉnh ĐN.

Bà Hồ Hoàng A là chủ tịch công đoàn công ty DS nhiệm kỳ 2018-2023 nên công ty và Ban chấp hành công đoàn đã lập biên bản thỏa thuận ngày 01/11/2018 chấm dứt hợp đồng lao động với bà Hồ Hoàng A – Chủ tịch công đoàn vì lí do thay đổi cơ cấu. Biên bản thỏa thuận này được thông qua với 2/3 số phiếu, thực hiện đúng quy định tại khoản 7 điều 192 Bộ luật lao động 2012.

Ngày 10/12/2018, công ty gửi thông báo chấm dứt hợp đồng lao động số 08003/TBTV cho bà Hồ Hoàng A và bà A đã nhận. Ngày 21/02/2019 Công ty ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 08003/QĐTV với bà Hồ Hoàng A và chi trả các khoản tiền thôi việc cho Anh theo quy định của pháp luật.

Như vậy công ty DS chấm dứt hợp đồng lao động với bà Hồ Hoàng A là đúng quy đinh của pháp luật nên toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà A là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng A là đúng quy định. Kháng cáo của bà Dương Thị Th đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Hoàng A là không có cơ sở chấp nhận, đề nghị bác kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn làm trong hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Về quan hệ lao động:

Theo chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự thể hiện: Công ty TNHH DS Chemical Việt Nam (sau đây gọi tắt là Công ty) và bà Hồ Hoàng A ký Hợp đồng lao động ngày 14/01/2008. Đến ngày 01/3/3010, hai bên ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, công việc của bà A là Trợ lý giám đốc. Ngày 20/02/2019 Công ty ban hành Quyết định số 08003/QĐTV về việc chấm dứt Hợp đồng lao động với bà A. Công việc trước khi bà A nghỉ việc là trưởng bộ phận xuất nhập khẩu và mức lương trước khi nghỉ việc là 31.623.000 đồng/tháng. Ngoài ra, trong quá trình làm việc, bà A còn giữ chức Chủ tịch Công đoàn Công ty nhiệm kỳ 2018 – 2023. Đây là những tình tiết, sự kiện có thật, các đương sự đều thừa nhận, nên không cần chứng minh theo quy định của Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Bà Hồ Hoàng A cho rằng Công ty TNHH DS Chemical Việt Nam đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà là không đúng với quy định tại khoản 7 Điều 192 của Bộ luật lao động, do thời điểm cho bà A nghỉ việc, thì bà A đang là Chủ tịch Công Đoàn, nhưng Công ty không có văn bản thỏa thuận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên cơ sở. Công ty tổ chức cuộc họp có Ban giám đốc Công ty, trong đó có người của Công đoàn rồi lấy biểu quyết và tính trên đa số là không khách quan và vi phạm Luật tổ chức công đoàn; Ban hành phương án sử dụng lao động nhưng trong đó không thể hiện nội dung bố trí công việc mới cho bà Hồ Hoàng A và các thành viên khác của bộ phận xuất nhập khẩu. Phần đóng dấu chỉ đóng dấu Công ty DS, không có dấu của Công đoàn là không khách quan. Do đó, bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty phải hủy quyết định số 08003/QĐTV ngày 20/02/2019 về việc chấm dứt Hợp đồng lao động; nhận bà A trở lại làm việc; trả tiền lương từ ngày 20/02/2019 đến ngày Công ty nhận trở lại làm việc; bồi thường 02 tháng tiền lương; đóng BHXH và BHYT cho bà A từ ngày 20/02/2019 đến ngày Công ty nhận trở lại làm việc. Trường hợp Công ty không nhận bà A trở lại làm việc thì phải bồi thường ít nhất 02 tháng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 42 Bộ luật lao động.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng:

Do hiệu quả và lợi nhuận của bộ phận xuất nhập khẩu Công ty đem lại không cao và để tránh rủi ro pháp lý, nên Công ty DS đã họp ban giám đốc điều hành ngày 16/07/2018 để ra quyết định số 01-18/QĐDS, về việc giải thể bộ phận xuất nhập khẩu ngày 24/08/2018 vì lý do thay đổi cơ cấu. Khi giải thể bộ phận xuất nhập khẩu do thay đổi cơ cấu, Công ty đã xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định của Điều 46 Bộ luật lao động, thể hiện trong biên bản họp ngày 31/10/2018, ngày 01/11/2018 có sự tham gia của Ban chấp hành công đoàn Công ty mà bà A là Chủ tịch công đoàn cùng tham dự. Cũng trong hai biên bản họp này, Công ty với Ban chấp hành công đoàn Công ty không thống nhất được phương án sử dụng lao động đối với bà Hồ Hoàng A, do bà A không đồng ý chuyển làm công việc khác mà muốn làm việc ở bộ phận Xuất nhập khẩu, trong khi bộ phận này không còn, nên Công ty phải cho bà A nghỉ việc và chi trả các chế độ cho bà A theo quy định. Cùng ngày 01/11/2018 Công ty DS và Ban chấp hành công đoàn Công ty đã có Biên bản thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động với 02 người lao động trong đó có bà A là chủ tịch Công đoàn, bà A có ký tên trong biên bản này, nhưng ghi ý kiến “không đồng ý”. Như vậy, hai bên là Công ty DS với Ban chấp hành công đoàn Công ty không thỏa thuận được, nên ngày 05/11/2018 Công ty đã có Văn bản số 01/2018 về việc Thông báo giải thể bộ phận xuất nhập khẩu do thay đổi cơ cấu đính kèm phương án sử dụng lao động, các biên bản họp với Ban chấp hành Công đoàn cơ sở, cơ cấu tổ chức Công ty trước và sau thay đổi. Văn bản này đã được Công ty DS gửi đến Công đoàn khu công nghiệp BH ngày 05/11/2018 và Liên đoàn lao động tỉnh ĐN ngày 06/11/2018 theo đúng quy định tại khoản 7 Điều 192 Bộ luật lao động và khoản 2 Điêu 25 Luật Công đoàn. Đến ngày 20/02/2019 Công ty DS ban hành Quyết định số 08003/QĐTV về việc chấm dứt Hợp đồng lao động với bà A và chi trả mọi chế độ cho bà A là đúng quy định tại khoản 10 Điều 36, điều 44, khoản 7 Điều 192 Bộ luật lao động và Điều 13 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ.

Việc Ban chấp hành công đoàn Công ty DS không đóng dấu vào phương án sử dụng lao động và Biên bản thỏa thuận ngày 01/11/2018, cũng như việc sau khi hai bên không thống nhất được nội dung trong biên bản thỏa thuận ngày 01/11/2018, Công đoàn Công ty DS cũng không báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, thể hiện việc thiếu trách nhiệm của Công đoàn Công ty DS do bà A làm Chủ tịch công đoàn, chứ không phải lỗi của phía Công ty. Do đó, cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Hoàng A là đúng, bà A kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới chứng minh cho kháng cáo của mình, nên không có căn cứ chấp nhận.

.Về án phí: Bà Hồ Hoàng A được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, của Bộ luật tố tụng dân sự, bác kháng cáo của bà Hồ Hoàng A, giữ y bản án sơ thẩm số 32/2019/LĐ-ST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN.

Áp dụng khoản 10 Điều 36; Điều 44, Điều 45, Điều 46, Điều 47, Điều 49; Điều 192; 202 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 13 của Nghị định 05/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết Bộ luật Lao động về tiền lương; khoản 7 Điều 192 Bộ luật lao động 2012 và Điều 25 Luật công đoàn 2012; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Tuyên xử

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Hoàng A về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” với Công ty TNHH DS Chemical (Việt Nam).

Về án phí: Bà Hồ Hoàng A thuộc trường hợp được miễn án phí lao động sơ thẩm, phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ