vanban.org

Bản án 13/2020/KDTM-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 15/10/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V đối với bị đơn Công ty TNHH thương mại kim loại HM

Buộc Công ty TNHH thương mại kim loại HM phải bồi thường thiệt hại cho Công ty BV V tổng số tiền là 4.417.006.610 đồng (Bốn tỷ bốn trăm mười bảy triệu không trăm linh sáu nghìn sáu trăm mười đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng — án dân sự — "Kiện đòi tiền"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V đối với bị đơn Công ty TNHH thương mại kim loại HM
  • Căn cứ chính? Điều 13 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC G
TỈNH BẮC G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/KDTM-ST
Ngày 15 tháng 10 năm 2020
V/v “Kiện đòi bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vượng và ông Nguyễn Văn Chi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Bắc G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc G tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15/10/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc G mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 29/2020/TLST- KDTM về việc“Kiện đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐST-KDTM ngày 28/8/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/QĐST-KDTM ngày 11/9/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2020/QĐST-KDTM ngày 23/9/2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V.

Do ông XIE ZHAO C – Chức vụ: Tổng giám đốc làm đại diện.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thảo- chức vụ Trưởng ban đối ngoại Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V. (Có mặt)

Trụ sở chính: Lô số B5, B6 Khu Công nghiệp Song K- Nội H, xã Song K, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc G.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V là bà Hoàng Thị Bích Loan- Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Hoàng Loan- Đoàn Luật sư tỉnh Bắc G. (Có mặt)

* Bị đơn: Công ty TNHH thương mại kim loại HM.

Do bà Nguyễn Thị Mai A – Chức vụ: Giám đốc làm đại diện.

Trụ sở chính: Lô số 1863/3A, phường An Phú Đông, Quận M, thành phố HCM.

Nay chuyển đến: Số 32 Đường số 4, cư xá Đô Thành, phường 4, Quận N, thành phố HCM.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thanh Hiển - Luật sư thuộc Công Ty Luật TNHH Hừng Đông- Đoàn Luật sư Hà Nội. (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH thương mại kim loại HM là ông Nguyễn Danh H- Luật sư thuộc Công Ty Luật TNHH Hừng Đông- Đoàn Luật sư Hà Nội. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cục tH tỉnh Bắc G. Địa chỉ: Số 280, đường Hoàng Văn Thụ, phường DK, thành phố Bắc G.

Do ông Phạm Văn Thịnh- chúc vụ: Cục trưởng là đại diện theo pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thế Vinh - chức vụ: Phó trưởng phòng thanh tra kiểm tra số 3 - Cục tH tỉnh Bắc G. (Có mặt)

2. Chi cục tH khu vực Quận M - huyện HM, thành phố HCM.

Địa chỉ: 282A Nguyễn Ảnh Thủ, phường Hiệp Thành, Quận M, HCM.

Do ông Mai Văn Quang- chúc vụ Chi cục trưởng là đại diện. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/6/2020 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V (viết tắt là Công ty BV V) do bà Phạm Thị Thảo là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Trong năm 2018, giữa Công ty BV V và Công ty TNHH thương mại kim loại HM (viết tắt là Công ty HM) đã ký kết nhiều Hợp đồng mua bán hàng hóa là đồng phế liệu. Hợp đồng đã được hai bên tuân thủ thực hiện trên thực tế. Công ty HM đã giao hàng cho Công ty BV V tại địa điểm: Lô số B5, B6 KCN Song K - Nội H, xã Song K, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc G. Đồng thời, Công ty BV V đã nhận hàng và hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho Công ty HM đầy đủ số tiền tương ứng với số hàng được nhận (bao gồm cả tiền tH giá trị gia tăng).

Tại Mục I của Hợp đồng mua bán hàng hóa hai bên thỏa thuận: "Tổng số tiền trên đã là đơn giá bao gồm tH đến kho của bên mua, đơn giá đã bao gồm tH VAT 10%, chi phí đóng hàng, bốc dỡ hàng, vận chuyển, bảo hiểm và các chi phí khác". Điều này có nghĩa: Công ty HM phải có trách nhiệm phát hành và đảm bảo tính hợp lệ của hóa đơn GTGT cho Công ty BV V tương ứng với số tiền mà Công ty BV V thanh toán.

Công ty HM đã xuất và giao cho Công ty BV V hóa đơn giá trị gia tăng tương ứng với số tiền hàng Công ty BV V đã thanh toán.

Trên cơ sở các hóa đơn giá trị gia tăng do Công ty HM xuất và bàn giao 42 hóa đơn (có số thứ tự từ 0000199 đến 0000289, từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018) Công ty BV V đã tiến hành kê khai khấu trừ, hoàn tH GTGT trong Quý 3 và Quý 4 năm 2018.

Ngày18/10/2018, Cục tH tỉnh Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 4659/QĐ- CT ngày 18/10/2018 về việc hoàn tH với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền tH là 33.606.321.081 đồng.

Ngày 17/01/2019, Cục tH tỉnh Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 226/QĐ-CT ngày 17/01/2019 với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền tH là: 53.106.958.779 đồng.

Tuy nhiên, ngày 25/7/2019, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Thông báo số 1932/CCT-KTr3 V/v không chấp nhận hoàn tH khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn bất hợp pháp có xuất xứ từ Công ty HM với nội dung: Chi cục tH Quận M thông báo các hóa đơn mà Công ty HM xuất bán cho Công ty BV V theo bảng kê dưới đây không còn giá trị sử dụng. Đề nghị Cục tH tỉnh Bắc G không chấp nhận hoàn tH khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn của Công ty BV V mua vào dưới đây (42 hóa đơn có số thứ tự từ số 01 đến số 42). Số hóa đơn từ 0000199 đến 0000289 từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018; TH VAT: 14.534.888.105 đồng.

Sau khi có văn bản trên, ngày 15/8/2019 Cục tH tỉnh Bắc G ban hành quyết định thanh tra tH; ngày 01/11/2019 Cục tH tỉnh Bắc G đã thành lập đoàn thanh tra, thực hiện việc thanh tra tH tại Công ty BV V. Tại Biên bản thanh tra tH ngày 01/11/2019 phần kiểm tra sau hoàn tH GTGT đã kết luận:

Công ty BV V đã sử dụng hóa đơn không còn giá trị sử dụng để kê khai khấu trừ, hoàn tH là không đúng quy định tại Khoản 1 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 21/12/2013 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Luật tH GTGT.

Đoàn thanh tra kiến nghị Cục trưởng Cục tH tỉnh Bắc G ra quyết định xử lý truy thu, truy hoàn số tH phát hiện tăng thêm qua thanh tra là: 14.538.096.768 đồng (trong đó truy hoàn 14.534.88.105 đồng, truy thu TNCN: 3.208.663 đồng).

Công ty BV V nộp ngay số tiền tH truy thu, truy hoàn tăng thêm qua thanh tra là: 14.538.096.768 đồng vào NSNN khi có Quyết định xử lý của cơ quan tH.

- Tiền phạt khai sai về tH GTGT: 2.906.977.621 đồng.

- Căn cứ Khoản 1 Điều 106 Luật quản lý tH được sửa đổi, bổ sung; theo Quy định tại Khoản 3, Điều 3 Luật về tH ngày 06/4/2016, Đoàn Thanh tra xác định số tiền chậm nộp đối với các khoản tiền tH truy thu phát hiện qua thanh tra đối với Công ty BV V tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp tH đến khi cơ quan tH ra Quyết định xử lý.

Trên cơ sở kết luận thanh tra, ngày 05/11/2019, Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 về việc xử lý vi phạm về tH đối với Công ty BV V như sau:

- TH giá trị gia tăng truy hoàn là 14.534.888.105 đồng.

- Truy thu tH TNCN là 3.208.663 đồng.

- Xử phạt vi phạm hành chính về tH khai sai: 2.907.619.354 đồng.

- Xử phạt về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp: 20.000.000 đồng.

- Tính tiền chậm nộp do khai sai về tH: 1.510.028.792 đồng.

Cục tH tỉnh Bắc G đã ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 về việc xử lý vi phạm về tH là đảm bảo đúng quy đinh của pháp luật. Công ty BV V đã đồng ý thực hiện chấp hành quyết định và không có khiếu nại.

Thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Công ty BV V đã nộp vào ngân sách Nhà nước tiền phạt khai sai tH GTGT là: 2.906.977.621 đồng và tiền chậm nộp tH GTGT là 1.510.028.989 đồng. Việc nộp tiền thể hiện bằng hai Giấy nộp tiền ngày 11/12/2019 (Giấy nộp tiền số 20191108VNTN40376 và Giấy nộp tiền số 20191025VNTN46525).

Đối với khoản TH giá trị gia tăng truy hoàn là 14.534.888.105 đồng thì sau khi Công ty HM phát hành 42 hóa đơn mới để thay thế hóa đơn bị vô hiệu thì Công ty BV V đã được kê khai với cơ quan tH theo quy định.

Có 2 khoản Công ty BV V bị truy thu và xử phạt nhưng không yêu cầu đó là:

- Truy thu tH TNCN là 3.208.663 đồng.

- Xử phạt về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp: 20.000.000 đồng.

Tổng thiệt hại, chi phí phát sinh mà Công ty HM gây ra cho Công ty BV V trong quá trình thực hiện các hợp đồng mua bán đồng phế liệu với Công ty HM là 4.417.006.610 đồng (Bốn tỷ bốn trăm mười bảy triệu không trăm linh sáu nghìn sáu trăm mười đồng).

Số tiền: 4.417.006.610 đồng là chi phí, thiệt hại phát sinh mà Công ty HM gây ra cho Công ty BV V do Công ty HM không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán tài sản được xác lập và thực hiện giữa hai bên, đã xuất cho Công ty BV V 42 số hóa đơn không còn giá trị sử dụng.

Trước khi được thanh toán tiền hoàn thế GTGT thì Công ty BV V hoàn toàn không được biết 42 hóa đơn xuất cho Công ty BV V không còn giá trị sử dụng, chỉ đến khi Cục tH tỉnh Bắc G nhận được Thông báo số 1932/CCT-KTr3 ngày 25/7/2019 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn bất hợp pháp có xuất xứ từ Công ty HM và Cục tH tỉnh Bắc G ban hành quyết định thanh tra tH ngày 15/8/2019 và thông báo cho Công ty BV V biết thì khi đó Công ty BV V mới được biết.

Lỗi dẫn đến thiệt hại hoàn toàn do Công ty HM đã cố ý sử dụng và phát hành các hóa đơn không còn giá trị sử dụng, không thông báo và chậm trễ trong việc thực hiện hủy hóa đơn không còn giá trị sử dụng, khiến cho Công ty BV V đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng hóa đơn không còn giá trị sử dụng để kê khai khấu trừ, hoàn tH, phải nộp tiền phạt vi phạm hành chính số tiền 2.906.977.621 đồng và tiền chậm nộp tH GTGT là 1.510.028.989 đồng.

Tại phiên tòa, Công ty BV V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử buộc Công ty HM phải bồi thường thiệt hại cho Công ty BV V tổng số tiền: 4.417.006.610 đồng. Bao gồm: tiền phạt khai sai tH GTGT là: 2.906.977.621 đồng và tiền chậm nộp tH GTGT là 1.510.028.989 đồng.

Bị đơn là Công ty HM do Luật sư Nguyễn Thanh Hiển đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa trình bày:

Ngày 30/10/2018 Công ty HM làm báo cáo tH quý 3/2018 (theo quy định thời hạn nộp tờ khai tH quý: Chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu tiên quý sau) thì mới phát hiện ra Mã số tH bị khóa.

Ngày 31/10/2018 Công ty HM cử kế toán đến Chi cục tH Quận M, thành phố HCM nộp Công văn số 8145/CV ngày 31/10/2018 về việc xin mở lại Mã số tH thì mới nhận được Thông báo số 7708/TB-CCT ngày 21/9/2018 về việc Công ty HM không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Do Công ty HM hoạt động có liên quan đến kim loại tạo ra âm thanh ồn ào, bụi bẩn, vì bảo vệ lợi ích cho mọi nhà xung quanh nên Công ty HM thường xuyên đóng cửa, đã gây ra hiểu nhầm khi cán bộ Quản Lý tH Quận M xuống kiểm tra. Công ty HM giao hóa đơn cuối cùng trong loạt 42 hóa đơn cho Công ty BV V là ngày 26/10/2018. Từ ngày 30/10/2018 Công ty HM không xuất Hóa đơn khi đã bị khóa Mã số tH.

Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã hướng dẫn Công ty HM thực hiện xử lý hóa đơn để khôi phục mã số tH theo quy định tại phần III Quyết định số 438/QĐ-TCT ngày 05/4/2017 của Tổng cục tH. Theo quyết định này thì doanh nghiệp phải hủy các số hóa đơn không còn giá trị sử dụng tại Thông báo về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã thông báo theo quy định tại Điều 29 Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/6/2014 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 14/01/2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Hình thức xử phạt: Phạt tiền.

Thực hiện các Biên bản làm việc của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM với Công ty HM ngày 05/11/2018 và ngày 09/11/2018, Công ty HM nhận Quyết định xử phạt số 6137/QĐ-CCT ngày 06/11/2018 và Quyết định xử phạt số 6376/QĐ-CCT ngày 12/11/2018. Công ty đã chấp hành các nghĩa vụ và đã nộp tiền đầy đủ vào ngân sách Nhà nước.

Ngày 19/11/2018 với Thông báo số 9372/TB-CCT về việc khôi phục Mã số tH Công ty HM được hoạt động trở lại.

Công ty HM đã xuất các hóa đơn thay thế cho các hóa đơn bị hủy trên và đã chuyển trả cho khách hàng cụ thể là số lượng 42 tờ Hóa đơn cho Công ty BV V. Công ty HM cũng đã chuyển trả cho Công ty BV V qua bưu điện ngày 19/8/2019 và Công ty BV V cũng đã nhận đủ 42 số hóa đơn này. Các quy trình xuất hóa đơn thay thế được thực hiện dưới sự giám sát quản lý của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM.

Theo như Thông báo số 05/2020/TB-BV ngày 25/5/2020 của Công ty BV V:

Ngày 18/10/2018, Cục tH Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 4659/QĐ-CT về việc hoàn tH với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền hoàn tH 33.606.321.081 đồng (Bằng chữ: Ba mươi ba tỷ sáu trăm lẻ sáu triệu ba trăm hai mươi mốt ngàn tám mươi mốt đồng).

Ngày 17/01/2019, Cục tH Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 226/QĐ-CT về việc hoàn tH với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền hoàn tH 53.106.958.779 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba tỷ một trăm lẻ sáu triệu chín trăm năm mươi tám ngàn bảy trăm bảy mươi chín đồng).

Ngày 01/11/2019 Cục tH Bắc G thanh tra tH đối với Công ty BV V và ra các Quyết định xử phạt hành chính đối với Công ty BV V.

Công ty HM không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty BV V với lý do:

Công ty HM đã bị khóa mã số tH ngày 21/09/2018 nhưng đến ngày 31/10/2018 Công ty HM mới biết mình bị khóa Mã số tH.

Ngày 18/10/2018 với Quyết định hoàn tH số 4659/QĐ-CT và ngày 17/01/2019 với Quyết định hoàn tH số 226/QĐ-CT của Cục tH Bắc G thì Công ty BV V đã nhận đủ tiền hoàn tH của 42 tờ hóa đơn trong thời gian có phát sinh Hợp đồng mua bán giữa 2 bên. Điều này cho thấy các điều khoản trong các Hợp đồng mua bán mà giữa 2 Công ty ký kết thì Công ty HM đã thực hiện đầy đủ, Công ty HM không vi phạm hợp đồng.

Ngày 19/11/2018 Công ty HM có Thông báo số 9372/TB-CCT để hoạt động trở lại nhưng ngày 18/10/2018 Cục tH Bắc G đã có Quyết định hoàn tH số 4659/QĐ-CT với một số tiền hoàn tH rất lớn. Đây là trách nhiệm hoàn toàn của Cục tH tỉnh Bắc G và Công ty BV V, giữa các Cục tH với nhau trong việc kê khai quản lý kiểm tra đối chiếu tH trong khi Công ty HM đang bị khóa Mã số tH mà Công ty BV V vẫn nhận đủ tiền hoàn tH. Đến ngày 01/11/2019 (Công ty HM hiểu là Công ty BV V đã sử dụng số tiền hoàn tH đã 12 tháng) thì Cục tH tỉnh Bắc G mới thanh tra Công ty BV V phạt số tiền 4.417.006.610 đồng.

Thiệt hại xảy ra không hoàn toàn do lỗi của Công ty HM gây ra. Trong số 42 hóa đơn không còn giá trị sử dụng (theo như Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Công văn số 1932/CCT-KTr3 ngày 25/7/2019 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH) có 32 số hóa đơn được Công ty HM xuất cho Công ty BV V trước ngày có Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM. Nhưng Chi cục tH Quận M, thành phố HCM vẫn thông báo không còn giá trị sử dụng cho Cục tH tỉnh Bắc G; Cục tH tỉnh Bắc G ra quyết định xử phạt hành chính về tH với lý do sử dụng hóa đơn bất hợp pháp trong đó có cả 32 số hóa đơn được Công ty HM xuất cho Công ty BV V trước ngày có Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM là không đúng quy định của pháp luật. Lỗi gây nên không phải hoàn toàn do Công ty HM mà có một phần lỗi của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Cục tH tỉnh Bắc G. Công ty HM chỉ đồng ý nhận bồi thường liên quan tới 10 số hóa đơn Công ty HM xuất cho Công ty BV V sau ngày có Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Chi cục tH khu vực Quận M - huyện HM, thành phố HCM do ông Mai Văn Quang là đại diện vắng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản trình bày:

* Về Cơ quan tH quản lý Công ty HM: Công ty HM đã chuyển địa điểm về địa chỉ: số 32 đường số 4, Cư Xá Đô Thành, phường 4, Quận N, thành phố HCM.

* Về Căn cứ để Chi Cục tH Quận M ban hành Thông báo số 7708/TB-CCT ngày 21/9/2018:

Căn cứ Điều 19 Thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày 28/6/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về đăng ký tH.

Căn cứ Quyết định số 438/QĐ-TCT ngày 05/4/2017 của Tổng cục tH về việc Ban hành quy định về trình tự thủ tục xác minh tình trạng hoạt động, thông báo Công khai thông tin, xử lý và khôi phục mã số tH đối với người nộp tH không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan tH.

Ngày 13/6/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM gửi giấy mời đại diện pháp luật của Công ty HM đến Chi cục tH Quận M, thành phố HCM để làm việc về kê khai doanh thu tăng giảm bất thường nhưng Công ty HM không đến liên hệ làm việc và bưu điện có trả lại thư do địa chỉ đóng cửa, gọi không ai nghe.

Ngày 02/8/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM gửi giấy mời lần 2 đại diện pháp luật Công ty HM đến Chi cục tH Quận M, thành phố HCM để làm việc về kê khai doanh thu tăng giảm bất thường nhưng Công ty HM không đến liên hệ làm việc.

Ngày 08/9/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM gửi giấy mời lần 3 mời đại diện theo pháp luật của Công ty HM đến Chi cục tH Quận M, thành phố HCM để làm việc về kê khai doanh thu tăng giảm bất thường nhưng Công ty HM không đến liên hệ làm việc.

Ngày 19/9/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã phối hợp với UBND phường An Phú Đông, Quận M, thành phố HCM xác minh thực tế tình trạng hoạt động của Công ty HM tại địa chỉ đã đăng ký. Kết quả xác minh: Công ty HM không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Tổ xác minh đã lập biên bản xác minh trong đó nêu rõ người nộp tH đã không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký theo mẫu số 15/BB-BKD ban hành theo thông tư số 95/2016/TT-BTC có xác nhận của chính quyền địa phương.

Ngày 21/9/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Thông báo số 7708/TB-CCT về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký đối với Công ty HM.

* Về xử lý hóa đơn:

Ngày 23/10/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM nhận được Công văn ngày 23/10/2018 của Công ty HM về việc đề nghị khôi phục mã số tH.

Ngày 31/10/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM nhận được Công văn ngày 31/10/2018 của Công ty HM về việc đề nghị khôi phục mã số tH và hồ sơ đính kèm gồm: Công văn giải trình, Công văn cam kết thu hồi hóa đơn, báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn quý 3/2018, quý 4 năm 2018, thông báo hủy hóa đơn ngày 30/10/2018.

Theo biên bản làm việc ngày 05/11/2018 của Đội quản lý ấn chỉ Chi cục tH Quận M, thành phố HCM, từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018 Công ty HM đã sử dụng hóa đơn mẫu 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P, từ số 198 đến 289: 92 số (trong đó xóa bỏ 21 số, xuất bán cho Công ty khác 71 số; xuất sau ngày ban hành ra Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 là 21 số, từ hóa đơn số 269 đến 289). Hóa đơn còn lại từ số 290 đến 300: 11 số chưa sử dụng, còn nguyên 3 liên lưu tại cuốn. Công ty HM đã nộp thông báo hủy hóa đơn mẫu số 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P, từ số 198 đến 300, tổng cộng 103 số và cam kết thu hồi hóa đơn đã sử dụng mẫu 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P từ số 198 đến 289.

Ngày 09/11/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Quyết định số 6376/QĐ-CCT về việc xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn đối với Công ty HM về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

Ngày 12/11/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã ban hành Quyết định số 6376/QĐ-CCT về việc xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn đối với Công ty HM về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

Ngày 25/7/2019, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã ban hành Công văn số 1932/CCT-KTr3 về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn do Công ty HM xuất bán cho Công ty BV V. Các hóa đơn này không còn giá trị sử dụng theo Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM.

* Về gửi Thông báo số 7708/Tb- CCT ngày 21/9/2018:

Chi cục tH Quận M, thành phố HCM có gửi Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký cho Công ty HM và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan ngày 25/9/2018 (Đính kèm Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 có đóng dấu xác nhận của bưu điện).

Ý kiến của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM- huyện HM:

Việc Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và Công văn số 1932/CCT-KTr3 về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn do Công ty HM xuất bán cho Công ty VÍNA là đúng quy định.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với Công ty HM: Chi cục tH Quận M, thành phố HCM- Huyện HM đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cục tH tỉnh Bắc G do ông Nguyễn Thế Vinh là đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa trình bày:

Cục tH tỉnh Bắc G nhận được Công văn số 1932/CCT-KTr3 ngày 25/7/2019 về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn bất hợp pháp có xuất xứ từ Công ty HM. Sau khi nhận được Công văn, Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 4276/QĐ-CT ngày 15/8/2019 của Cục trưởng Cục tH tỉnh Bắc G về việc thanh tra tại Công ty BV V. Sau một thời gian làm việc ngày 01/11/2019 đoàn thanh tra đã có biên bản thanh tra tH. Ngày 05/11/2019 Cục tH tỉnh Bắc G ban hành kết luận thanh tra tH với nội dung:

Công ty BV V kê khai khấu trừ, hoàn tH GTGT, tH TNDN, tH TNCN còn chưa đúng quy định, cụ thể:

- Sử dụng hóa đơn không còn giá trị sử dụng để kê khai, khấu trừ, hoàn tH GTGT.

- Hạch toán vào chi phí SXKD khi quyết toán tH TNDN khoản chi phí của hóa đơn không còn giá trị sử dụng.

- Kê khai, quyết toán thiếu số tH TNCN của người nước ngoài.

Từ kết luận trên, Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 về việc xử lý vi phạm về tH như sau:

- TH giá trị gia tăng truy hoàn là 14.534.888.105 đồng.

- Truy thu tH TNCN là 3.208.663 đồng.

- Xử phạt vi phạm hành chính về tH khai sai: 2.907.619.354 đồng.

- Xử phạt về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp: 20.000.000 đồng.

- Tính tiền chậm nộp do khai sai về tH: 1.510.028.792 đồng.

Công ty BV V đã thực hiện nộp đầy đủ số tiền trên.

Việc Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 về việc xử lý vi phạm về tH là căn cứ vào Công văn số 1932/CCT-KTr3 ngày 25/7/2019 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Kết luận thanh tra.

Việc tính thời gian chập nộp do khai sai về tH là tính từ ngày Doanh nghiệp được nhận tiền hoàn tH đến ngày nộp 24/10/2020 là đúng quy định của pháp luật.

Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 về việc xử lý vi phạm về tH là đảm bảo đúng quy đinh của pháp luật. Nếu như sau khi thông báo hủy 103 hóa đơn và sau khi cam kết thu hồi hóa đơn, Công ty HM thu hồi ngay 42 hóa đơn đã xuất bán cho Công ty BV V thì không có thiệt hại xẩy ra.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với Công ty HM: Cục tH tỉnh Bắc G đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Luật sư Hoàng Thị Bích Loan có ý kiến tranh luận như sau:

Căn cứ hợp đồng mua bán hàng hóa là đồng phế liệu được ký giữa Công ty BV V và Công ty HM thì Công ty HM phải có nghĩa vụ xuất hóa đơn GTGT cho Công ty BV V tương ứng với giá trị hợp đồng.

Trên cơ sở các hóa đơn giá trị gia tăng do Công ty HM xuất và bàn giao (42 hóa đơn có số thứ tự từ 0000199 đến 0000289, từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018) chúng tôi đã tiến hành kê khai khấu trừ, hoàn tH GTGT trong Quý 3 và Quý 4 năm 2018 và được Cục tH tỉnh Bắc G hoàn tH.

Tuy nhiên, ngày 25/7/2019, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Thông báo số 1932/CCT-KTr3 V/v không chấp nhận hoàn tH khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn bất hợp pháp có xuất xứ từ Công ty HM.

Căn cứ vào Công văn số 1932/CCT-KTr3 ngày 25/7/2019 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Kết luận thanh tra, Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 về việc xử lý vi phạm về tH.

Việc Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 là đảm bảo đúng quy đinh của pháp luật.

Thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Công ty BV V đã nộp vào ngân sách Nhà nước tiền phạt khai sai tH GTGT là: 2.906.977.621 đồng và tiền chậm nộp tH GTGT là 1.510.028.989 đồng. Việc nộp tiền thể hiện bằng hai Giấy nộp tiền ngày 11/12/2019 (Giấy nộp tiền số 20191108VNTN40376 và Giấy nộp tiền số 20191025VNTN46525).

Tổng thiệt hại, chi phí phát sinh mà Công ty HM gây ra cho Công ty BV V trong quá trình thực hiện các hợp đồng mua bán đồng phế liệu với Công ty HM là 4.417.006.610 đồng.

Lỗi này hoàn toàn do Công ty HM gây ra do đã xuất 42 hóa đơn GTGT cho Công ty BV V không còn giá trị sử dụng.

Việc Công ty HM cho rằng lỗi gây nên không phải hoàn toàn do Công ty HM mà có một phần lỗi của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Cục tH tỉnh Bắc G là không có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty BV V.

Luật sư Nguyễn Danh H có ý kiến tranh luận như sau:

- Việc Công ty BV V bị cơ quan tH phạt 4.417.006.610 đồng có một phần lỗi của Công ty BV V. Bởi lẽ:

Sau khi ban hành Thông báo số 7708/TB-CCT ngày 21/9/2018 về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký thì Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã cập nhật trạng thái “người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” vào Hệ thống ứng dụng đăng ký tH. Đây là hệ thống thông tin công khai của Tổng cục tH mà mọi cá nhân, tổ chức đều có thể truy cập để xem thông tin.

Người nộp tH thuộc trường hợp được hoàn tH phải tự xác định số tiền tH giá trị gia tăng đủ điều kiện khấu trừ, hoàn tH, khai đề nghị hoàn tH, lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn tH đến cơ quan tH quản lý trực tiếp. Đồng thời trong hồ sơ hoàn tH theo quy định phải có giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách (theo mẫu), trong giấy này có nội dung bắt buộc đơn vị đề nghị hoàn tH phải cam đoan số liệu khai của họ là đúng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những số liệu đã khai.

Nhưng Công ty BV V không kiểm tra thông tin liên quan đến việc hoàn tH khi hoàn tH.

Việc giao dịch mua bán hàng hóa giữa 2 Công ty là có thật, Công ty HM đã giao hàng hóa đầy đủ cho Công ty BV V, Công ty BV V đã nhận hàng, thanh toán đầy đủ, có phiếu xuất kho, nhập kho, có Biên bản thanh lý hợp đồng, cả 2 Công ty đều hạch toán kế toán đầy đủ, kê khai, nộp tH đầy đủ, hàng hóa mua vào đã được Công ty BV V đưa vào sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đã bán ra có kê khai tH đầy đủ. Nếu như Công ty BV V bị cơ quan tH thanh tra, kiểm tra về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, Công ty BV V chứng minh về giao dịch mua bán giữa hai bên là sự thật như nêu trên thì Công ty BV V đã không bị phạt về tH.

- Việc Công ty BV V bị cơ quan tH phạt 4.417.006.610 đồng có một phần có lỗi của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Cục TH tỉnh Bắc G. Bởi lẽ:

Chi cục tH Quận M, thành phố HCM căn cứ vào báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn quý 2/2018 của Công ty HM (tức là đến hết tháng 6/2018) thông báo toàn bộ 103 hóa đơn không có giá trị sử dụng từ ngày ban hành thông báo (ngày 21/9/2018) là hoàn toàn không có căn cứ vì sau thời điểm quý 2/2018 (tức là hết tháng 6/2018) cho đến trước ngày Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ra thông báo là ngày 21/9/2018 Công ty HM vẫn hoạt động kinh doanh bình thường. Do vậy, việc Công ty HM xuất 32 số hóa đơn trước ngày 21/9/2018 là hoàn toàn hợp lệ. Đến ngày 21/9/2018 Chi cục tH Quận M, thành phố HCM mới ra thông báo thì phải coi từ thời điểm ngày 21/9/2018 Công ty HM mới không được xuất hóa đơn và 10 hóa đơn xuất sau ngày 21/9/2018 mới là các hóa đơn không có giá trị sử dụng.

Chi cục tH Quận M, thành phố HCM xác định tất cả 42 số hóa đơn này kể cả 32 số hóa đơn xuất trước ngày 21/9/2018 đều không có giá trị sử dụng, từ đó thông báo cho Cục tH tỉnh Bắc G về việc không chấp nhận hoàn tH cho toàn bộ 42 số hóa đơn này dẫn đến việc Công ty BV V bị xử phạt có lỗi từ Chi cục tH Quận M, thành phố HCM xác định không đúng về số lượng hóa đơn không có giá trị sử dụng.

Ngày 25/7/2019 (tức là sau 8 tháng kể từ khi thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng) Chi cục tH Quận M, thành phố HCM mới ban hành Công văn số 1932/CCT-KTr3 về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn do Công ty HM xuất bán cho Công ty BV V và gửi cho Cục tH tỉnh Bắc G là quá chậm trễ, dẫn đến thời gian bị tính phạt về tH bị kéo dài dẫn đến số tiền bị phạt về tH của doanh nghiệp bị tăng lên.

Ngày 25/7/2019 Cục tH tỉnh Bắc G đã nhận được Công văn số 1932/CCT-KTr3 thông báo về việc không chấp nhận hoàn tH của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM gửi, nhưng đến ngày 05/11/2019 (gần 4 tháng sau) mới ra quyết định xử lý vi phạm về tH và tính tiền phạt về tH cho cả thời gian 4 tháng kéo dài thêm từ ngày 25/7/2019 đến ngày 05/11/2019 là không hợp lý, làm tăng tiền phạt về tH.

Từ những căn cứ nêu trên có thể khẳng định việc Công ty BV V bị xử lý về tH và bị phạt với tổng số tiền gần 4.417.006.610 đồng như Công ty BV V khởi kiện không phải hoàn toàn 100% lỗi của Công ty HM mà còn có lỗi của chính Công ty BV V và lỗi của các cơ quan tH trong việc xác định số tiền tH bị phạt. Do vậy, Công ty HM không phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ số tiền mà Công ty BV V bị phạt về tH.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty BV V.

Đại diện của Cục tH tỉnh Bắc G tranh luận như sau:

Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Cục tH tỉnh Bắc G không có lỗi gây nên thiệt hại cho Công ty BV V. Lỗi hoàn toàn thuộc về Công ty HM do Công ty HM ký vào biên bản ngày 05/11/2018 thừa nhận sai phạm của mình mà không khiếu nại Chi cục tH Quận M mà thông báo hủy bổ 42 hóa đơn không có giá trị sử dụng và cam kết thu hồi lại hóa đơn đã xuất bán nhưng Công ty HM không thực hiện thu hồi. Nếu Công ty HM thực hiện đúng cam kết ngày 31/10/2018 về việc thu hồi hóa đơn ngay sau khi thông báo hủy bỏ hóa đơn thì thiệt hại sẽ không xảy ra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc G phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn vắng mặt khi hòa giải, chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V đối với bị đơn Công ty TNHH thương mại kim loại HM

Buộc Công ty TNHH thương mại kim loại HM phải bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V tổng số tiền là 4.417.006.610 đồng (Bốn tỷ bốn trăm mười bảy triệu không trăm linh sáu nghìn sáu trăm mười đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 10%/năm.

2. Về án phí:

Công ty TNHH thương mại kim loại HM phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm về kinh doanh thương mại do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về thủ tục tố tụng:

Chi cục tH khu vực Quận M – huyện HM, thành phố HCM vắng mặt 2 lần không có lý do; Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo như quy định tại Điều 227 và khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa Công ty BV V với Công ty HM là quan hệ kinh doanh thương mại giữa pháp nhân với pháp nhân có đăng ký kinh doanh. Đây là tranh chấp “Kiện đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại các Hợp đồng mua bán hai bên có thỏa thuận "Trong thời gian thực hiện Hợp đồng nếu có xảy ra mâu thuẫn hai bên cùng bàn bạc thỏa thuận giải quyết trên tinh thần hữu nghị, nếu hiệp thương không thành, sẽ trình lên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc G để giải quyết".

Thỏa thuận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên không phù hợp với quy định của Điều 30 Khoản 1, Điều 35 Khoản 1, Điểm b, Điều 37 Khoản 1, Điểm a Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thỏa thuận đó bị vô hiệu.

Tuy nhiên, do nơi thực hiện hợp đồng, nơi giao nhận hàng hóa là trụ sở của Công ty BV V đặt tại: Lô số B5, B6 KCN Song K – Nội H, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc G (Điều khoản giao hàng của Hợp đồng) và tiền thanh toán cũng được chuyển khoản từ Bắc G nên căn cứ Điểm g Khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn cũng có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết là Tòa án nơi thực hiện hợp đồng. Do đó, Công ty BV V lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Bắc G là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án "Đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng" giữa Công ty BV V và Công ty HM là đúng quy định của pháp luật.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc Công ty HM phải bồi thường thiệt hại cho Công ty BV V tổng số tiền: 4.417.006.610 đồng. Bao gồm: tiền phạt khai sai tH GTGT là: 2.906.977.621 đồng và tiền chậm nộp tH GTGT là 1.510.028.989 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

Sau khi 3 lần gửi giấy mời theo đường bưu điện (lần 1 ngày 13/6/2018 lần 2 ngày 02/8/2018 và lần 3 ngày 08/9/2018) do có doanh thu tăng giảm bất thường nhưng Công ty HM không đến liên hệ làm việc và bưu điện có trả lại thư do địa chỉ đóng cửa, gọi không ai nghe.

Ngày 19/9/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã phối hợp với phường An Phú Đông, Quận M, thành phố HCM xác minh thực tế tình trạng hoạt động của Công ty HM tại địa chỉ đã đăng ký. Kết quả xác minh: Công ty HM không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

Ngày 21/9/2018, Chi cục tH quận Quận M, thành phố HCM ban hành Thông báo số 7708/TB-CCT về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký đối với Công ty HM.

Ngày 18/10/2018, Cục tH tỉnh Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 4659/QĐ-CT về việc hoàn tH với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền hoàn tH 33.606.321.081đ.

Ngày 23/10/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM nhận được Công văn ngày 23/10/2018 của Công ty HM về việc đề nghị khôi phục mã số tH.

Ngày 31/10/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM nhận được Công văn ngày 31/10/2018 của Công ty HM về việc đề nghị khôi phục mã số tH và hồ sơ đính kèm gồm: Công văn giải trình, Công văn cam kết thu hồi hóa đơn, báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn quý 3/2018, quý 4 năm 2018, thông báo kết quả hủy hóa đơn ngày 30/10/2018.

Ngày 09/11/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Quyết định số 6376/QĐ-CCT về việc sử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn đối với Công ty HM về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

Ngày 12/11/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã ban hành Quyết định số 6376/QĐ-CCT về việc xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn đối với Công ty HM về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

Ngày 19/11/2018 với Thông báo số 9372/TB-CCT về việc khôi phục Mã số tH, Công ty HM được hoạt động trở lại.

Ngày 15/8/2019 Cục tH tỉnh Bắc G ban hành quyết định thanh tra tH.

Ngày 17/01/2019, Cục tH Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 226/QĐ-CT về việc hoàn tH với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền hoàn tH 53.106.958.779 đồng.

Ngày 25/7/2019, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM đã ban hành Công văn số 1932/CCT-KTr3 về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn do Công ty HM xuất bán cho Công ty BV V.

Ngày 19/8/2019 Công ty HM đã xuất 42 tờ Hóa đơn cho Công ty BV V thay thế cho các hóa đơn bị hủy.

Ngày 01/11/2019 Cục tH Bắc G thanh tra tH đối với Công ty BV V.

Ngày 05/11/2019 Cục tH tỉnh Bắc G ban hành Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC về việc xử lý vi phạm về tH.

Việc sử dụng hóa đơn từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018:

Công ty HM đã sử dụng hóa đơn mẫu 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P, từ số 198 đến 289: 92 số (trong đó xóa bỏ 21 số, xuất bán cho Công ty khác 71 số; xuất sau ngày ban hành ra Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký là 21 số, từ hóa đơn số 269 đến 289). Hóa đơn còn lại từ số 290 đến 300: 11 số chưa sử dụng, còn nguyên 3 liên lưu tại cuốn. Công ty HM đã nộp thông báo hủy hóa đơn mẫu số 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P, từ số 198 đến 300, tổng cộng 103 số và cam kết thu hồi hóa đơn đã sử dụng mẫu 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P từ số 198 đến 289. Ngày 30/10/2018 Công ty HM thông báo hủy 103 hóa đơn.

Công ty BV V yêu cầu Tòa án buộc Công ty HM phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty BV V tổng số tiền là 4.417.006.610 đồng. Với lý do lỗi hoàn toàn thuộc về Công ty HM đã xuất cho Công ty BV V 42 hóa đơn không còn giá trị sử dụng.

Công ty HM không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty BV V với lý do: Thiệt hại xảy ra không hoàn toàn do lỗi của Công ty HM gây ra. Trong số 42 hóa đơn không còn giá trị sử dụng (theo như Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Công văn số 1932/CCT-KTr3 ngày 25/7/2019 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM về việc không chấp nhận hoàn tH, khấu trừ tH) có 32 số hóa đơn được Công ty HM xuất cho Công ty BV V trước ngày có Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM. Nhưng Chi cục tH Quận M, thành phố HCM vẫn thông báo không còn giá trị sử dụng cho Cục tH tỉnh Bắc G; Cục tH tỉnh Bắc G ra quyết định xử phạt hành chính về tH với lý do sử dụng hóa đơn bất hợp pháp trong đó có cả 32 số hóa đơn được Công ty HM xuất cho Công ty BV V trước ngày có Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM là không đúng quy định của pháp luật. Lỗi gây nên không phải hoàn toàn do Công ty HM mà có một phần lỗi của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Cục tH tỉnh Bắc G. Công ty HM chỉ đồng ý nhận bồi thường liên quan tới 10 số hóa đơn Công ty HM xuất cho Công ty BV V sau ngày có Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Chi cục tH Quận M, thành phố HCM sau khi 3 lần gửi giấy mời theo đường bưu điện (lần 1 ngày 13/6/2018 lần 2 ngày 02/8/2018 và lần 3 ngày 08/9/2018) do có doanh thu tăng giảm bất thường nhưng Công ty HM không đến liên hệ làm việc và bưu điện có trả lại thư do địa chỉ đóng cửa, gọi không ai nghe. Từ đó ra Thông báo số 7708/TB-CCT Ngày 21/9/2018 về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký đối với Công ty HM là đúng với hướng dẫn tại Quyết định số 438/QĐ-TCT ngày 05/4/2017 của Tổng cục tH về việc Ban hành quy định về trình tự thủ tục xác minh tình trạng hoạt động, thông báo Công khai thông tin, xử lý và khôi phục mã số tH đối với người nộp tH không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan tH.

Theo hướng dẫn tại mục 3.4. phần 2 Quyết định số 438/QĐ-TCT ngày 05/4/2017 của Tổng cục tH:

Khi nhận được Thông báo người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký do Bộ phận kiểm tra chuyển đến, Bộ phận Quản lý ấn chỉ có trách nhiệm thực hiện cập nhật thông tin vào hệ thống ứng dụng quản lý ấn chỉ về số lượng hóa đơn, chứng từ (loại, mẫu, ký hiệu) còn tồn chưa khai báo sử dụng với cơ quan tH (theo báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn kỳ cuối cùng của người nộp tH và Thông báo về việc hoá đơn không có giá trị sử dụng của người nộp tH gửi cơ quan tH (nếu có) trước khi cơ quan tH ban hành Thông báo này).

Theo hướng dẫn tại điểm c mục 4.1 phần 2 Quyết định số 438/QĐ-TCT ngày 05/4/2017 của Tổng cục tH:

Các Bộ phận khi tiến hành thanh tra, kiểm tra phát hiện người nộp tH (người mua) có kê khai khấu trừ, hoàn tH hoặc hạch toán chi phí khi xác định thu nhập chịu tH thu nhập doanh nghiệp đối với những số hóa đơn đã phát hành (hoặc mua) nhưng chưa sử dụng nêu tại Thông báo người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký trong khoảng thời gian từ ngày đầu tiên của tháng đầu quý sau kỳ báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn cuối cùng người nộp tH nộp cho cơ quan tH trước khi không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký đến trước ngày ban hành Thông báo người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký thì phối hợp xử lý theo hướng dẫn tại điểm 2 Công văn số 11797/BTC-TCT ngày 22/8/2014 của Bộ Tài chính. Trường hợp Công văn này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo văn bản mới được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.

Do vậy, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM căn cứ báo cáo tình hình hóa đơn kỳ quý 2/2018 của người nộp tH gửi đến cơ quan tH, đến ngày 19/9/2018 người nộp tH còn tồn 103 hóa đơn đã phát hành nhưng chưa sử dụng, từ đó thông báo 103 hóa đơn không còn giá trị sử dụng là đúng với hướng dẫn của Tổng cục tH.

Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Căn cứ hợp đồng mua bán hàng hóa là đồng phế liệu được ký giữa Công ty BV V và Công ty HM. Tại Mục I của Hợp đồng mua bán hàng hóa hai bên thỏa thuận: "Tổng số tiền trên đã là đơn giá bao gồm tH đến kho của bên mua, đơn giá đã bao gồm tH VAT 10%, chi phí đóng hàng, bốc dỡ hàng, vận chuyển, bảo hiểm và các chi phí khác". Tại Mục V của Hợp đồng mua bán hàng hóa hai bên thỏa thuận: "Sau khi hàng đến kho của bên mua thì trong vòng 3 ngày kể từ ngày giao hàng, bên mua tiến hành kiểm tra chất lượng hàng hóa. Trong điều kiện chất lượng hàng hóa nghiệm thu đạt yêu cầu thì bên mua trong vòng 5 ngày làm việc sau khi nhận được hóa đơn VAT của bên bán sẽ thanh toán toàn bộ lô hàng đó".

Công ty HM đã xuất và giao cho Công ty BV V hóa đơn giá trị gia tăng tương ứng với số tiền hàng Công ty BV V đã thanh toán.

Trên cơ sở các hóa đơn giá trị gia tăng do Công ty HM xuất và bàn giao (42 hóa đơn có số thứ tự từ 0000199 đến 0000289, từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018) Công ty BV V đã tiến hành kê khai khấu trừ, hoàn tH GTGT trong Quý 3 và Quý 4 năm 2018.

Ngày18/10/2018, Cục tH tỉnh Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 4659/QĐ- CT ngày 18/10/2018 về việc hoàn tH với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền tH là 33.606.321.081 đồng.

Ngày 17/01/2019, Cục tH tỉnh Bắc G đã ban hành Quyết định hoàn tH số 226/QĐ-CT ngày 17/01/2019 với nội dung: Hoàn trả cho Công ty BV V tổng số tiền tH là: 53.106.958.779 đồng.

Tuy nhiên, ngày 25/7/2019, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Thông báo số 1932/CCT-KTr3 V/v không chấp nhận hoàn tH khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn bất hợp pháp có xuất xứ từ Công ty HM với nội dung: Chi cục tH Q12 thông báo các hóa đơn mà Công ty HM xuất bán cho Công ty BV V theo bảng kê dưới đây không còn giá trị sử dụng. Đề nghị Cục tH tỉnh Bắc G không chấp nhận hoàn tH khấu trừ tH và đưa vào chi phí đối với các hóa đơn của Công ty BV V mua vào dưới đây (42 hóa đơn có số thứ tự từ số 01 đến số 42). Số hóa đơn từ 0000199 đến 0000289 từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018; TH VAT: 14.534.888.105 đồng.

Sau khi có văn bản trên, ngày 01/11/2019 Cục tH tỉnh Bắc G đã thành lập đoàn thanh tra, thực hiện việc thanh tra tH tại Công ty BV V và có kết luận tại Quyết định số 6023/QĐ-XPVPHC ngày 05/11/2019 của Cục tH tỉnh Bắc G về việc xử lý vi phạm về tH đối với Công ty BV V như sau:

- TH giá trị gia tăng truy hoàn là 14.534.888.105 đồng.

- Truy thu tH TNCN là 3.208.663 đồng.

- Xử phạt vi phạm hành chính về tH khai sai: 2.907.619.354 đồng.

- Xử phạt về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp: 20.000.000 đồng.

- Tính tiền chậm nộp do khai sai về tH: 1.510.028.792 đồng.

Thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Công ty BV V đã nộp vào ngân sách Nhà nước tiền phạt khai sai tH GTGT là: 2.906.977.621 đồng và tiền chậm nộp tH GTGT là 1.510.028.989 đồng. Việc nộp tiền thể hiện bằng hai Giấy nộp tiền ngày 11/12/2019.

Tổng thiệt hại, chi phí phát sinh mà Công ty HM gây ra cho Công ty BV V trong quá trình thực hiện các hợp đồng mua bán đồng phế liệu với Công ty HM là 4.417.006.610 đồng.

Như vậy, có thiệt hại thực tế xảy ra là 4.417.006.610 đồng. Thiệt hại này nguyên nhân từ hành vi vi phạm hợp đồng của Công ty HM. Công ty HM đã xuất 42 hóa đơn GTGT cho Công ty BV V không còn giá trị sử dụng.

Việc Công ty HM cho rằng lỗi gây nên không phải hoàn toàn do Công ty HM mà có một phần lỗi của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM và Cục tH tỉnh Bắc G là không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ:

Căn cứ biên bản làm việc ngày 05/11/2018 của Đội quản lý ấn chỉ Chi cục tH Quận M, thành phố HCM với ông Nguyễn Ngọc Hùng đại diện theo ủy quyền của Công ty HM: Từ ngày 02/7/2018 đến ngày 26/10/2018 Công ty HM đã sử dụng hóa đơn mẫu 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P, từ số 198 đến 289: 92 số (trong đó xóa bỏ 21 số, xuất bán cho Công ty khác 71 số; xuất sau ngày ban hành ra Thông báo số 7708/Tb-CCT ngày 21/9/2018 của Chi cục tH Quận M, thành phố HCM về việc người nộp tH không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký là 21 số, từ hóa đơn số 269 đến 289). Hóa đơn còn lại từ số 290 đến 300: 11 số chưa sử dụng, còn nguyên 3 liên lưu tại cuốn. Công ty HM đã nộp thông báo hủy hóa đơn mẫu số 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P, từ số 198 đến 300, tổng cộng 103 số. Công ty HM thừa nhận đã có hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp. Công ty HM đã nộp cho Chi cục tH Quận M, thành phố HCM Báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn quý 3/2018; thông báo hủy 103 hóa đơn; Bản cam kết thu hồi hóa đơn đã sử dụng mẫu 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P từ số 198 đến 289; bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ bán ra.

Ngày 09/11/2018, Chi cục tH Quận M, thành phố HCM ban hành Quyết định số 6376/QĐ-CCT về việc sử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn đối với Công ty HM về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp và Công ty HM đã chấp hành và không khiếu nại gì.

Như vậy, Công ty HM đã bỏ địa chỉ kinh doanh mà không thông báo với cơ quan tH (cơ quan tH đã thực hiện trình tự thủ tục xác minh tình trạng hoạt động của cơ sở kinh doanh theo hướng dẫn tại Quy trình ban hành kèm theo Quyết định số 438/QĐ-TCT ngày 05/4/2017 của Tổng cục trưởng Tổng cục TH), cơ quan tH đã ban hành Thông báo về việc cơ sở kinh doanh bỏ địa chỉ kinh doanh và số lượng hóa đơn còn tồn của cơ sở kinh doanh không còn giá trị sử dụng, sau đó cơ sở kinh doanh đến cơ quan tH khai báo lại về việc cơ sở kinh doanh tiếp tục hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và ban hành thông báo hủy 103 hóa đơn; Bản cam kết thu hồi hóa đơn đã sử dụng mẫu 01GTKT3/001, ký hiệu P/17P từ số 198 đến 289. Việc Hủy hóa đơn và thu hồi hóa đơn là phù hợp với quy định tại Điều 3 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giải thích từ ngữ về hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn hết giá trị sử dụng và sử dụng hóa đơn bất hợp pháp; Điều 22 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 của Bộ Tài chính quy định về sử dụng hóa đơn bất hợp pháp; điểm b khoản 2 Điều 29 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hủy hóa đơn.

Tuy nhiên, sau khi hủy hóa đơn và cam kết thu hồi hóa đơn, Công ty HM đã không thu hồi hóa đơn đã xuất bán cho Công ty BV V; đến ngày 19/9/2019 Công ty HM mới thu hồi 42 hóa đơn và xuất 42 hóa đơn khác thay thế. Theo như ý kiến của Cục tH tỉnh Bắc G, nếu như Công ty HM thu hồi 42 hóa đơn và xuất 42 hóa đơn khác thay thế ngay sau khi cam kết thì không có thiệt hại xảy ra.

Về số tiền chậm nộp tH GTGT là 1.510.028.989 đồng truy thu phát hiện qua thanh tra đối với Công ty BV V được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp tH đến khi cơ quan tH thanh tra (ngày 24/10/2019) là đúng với quy định tại Khoản 1 Điều 106 Luật quản lý tH được sửa đổi, bổ sung theo Quy định tại Khoản 3, Điều 3 Luật về tH ngày 06/4/2016.

Do vậy, không có căn cứ chấp nhận phản đối của Công ty HM.

Cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty BV V.

. Về án phí: Công ty HM phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm về kinh doanh thương mại do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả Công ty BV V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

. Về chi phí tố tụng: Tiền chi phí do phải tống đạt qua Văn phòng thừa phát lại quận 1 thành phố HCM hết tổng cộng 4.000.000 đồng. Công ty BV V đã tạm ứng số tiền này. Tại phiên tòa, Công ty BV V nhận chịu số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc G là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, khoản 2 Điều 288, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 13, Điều 360, Điều 361, Điều 419 Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 292; Điều 302; Điều 303 Luật Thương mại.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V đối với bị đơn Công ty TNHH thương mại kim loại HM

Buộc Công ty TNHH thương mại kim loại HM phải bồi thường thiệt hại cho Công ty BV V tổng số tiền là 4.417.006.610 đồng (Bốn tỷ bốn trăm mười bảy triệu không trăm linh sáu nghìn sáu trăm mười đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 10%/năm.

2. Về án phí:

Công ty TNHH thương mại kim loại HM phải chịu 112.417.000 đồng (Một trăm mười hai triệu bốn trăm mười bẩy nghìn đồng) án phí sơ thẩm về kinh doanh thương mại.

Trả lại cho Công ty TNHH vật liệu hợp kim BV V số tiền tạm ứng án phí 56.208.500 đồng (Năm mươi sáu triệu hai trăm linh tám nghìn năm trăm đồng) theo biên lai số AA/2018/0001384 ngày 01/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc G.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ