vanban.org

Bản án 13/2020/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quách Ngọc Diệu phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Quách Ngọc Diệu 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2019 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Ngọc Diệu phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HSST
Ngày 07/02/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Quý

Ông Huỳnh Tiến Dũng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyên Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Việt Tiến- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Quách Ngọc Diệu, giới tính: nữ, sinh năm 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 5/1B ấp 2, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Quách Minh Sanh (chết) và bà Võ Ngọc Bảnh (chết); chưa có chồng, con; Tiền sự: Không

Tiền án:

- Ngày 22/11/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 26/6/2013 chấp hành xong.

- Ngày 28/11/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 19/02/2015 chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm;

- Ngày 27/5/2016, bị Tòa án thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 24/12/2017 chấp hành xong toàn bộ bản án.

Nhân thân: Ngày 06/01/2006, bị Tòa án huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 15/4/2006 chấp hành xong

Bị tạm giam từ ngày 26/9/2019-có mặt.

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1978, địa chỉ: số 8 đường số 3, khu phố 3, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh –vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 26/9/2019, Quách Ngọc Diệu điều khiển xe mô tô biển số 59T1-16916 từ quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đi đến nhà bạn ở thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương chơi. Khi Diệu đi ngang qua tiệm tạp hóa “Ngọc Thu” địa chỉ số 8, đường số 3, khu phố 3, phường Tam Phú, quận Thủ Đức do chị Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1978 làm chủ, Diệu thấy cửa hàng mở nên dừng xe lại đi bộ vào trong cửa hàng thì thấy anh Nguyễn Vũ Viết Phúc (là chồng chị Thu) đang ngủ nên nảy ý định lấy trộm tài sản. Diệu đi tới bàn thu ngân, dùng tay kéo ngăn bàn ra rồi lấy trộm số tiền 9.200.000 đồng để trong ngăn kéo rồi đi bộ ra ngoài bỏ tiền lấy trộm được vào túi quần trước bên trái định lên xe tẩu thoát. Ngay lúc này, anh Phúc thức dậy thấy Diệu đi từ trong nhà ra thì đuổi theo và truy hô “Trộm, Trộm”. Thấy vậy, Diệu bỏ chạy bộ leo qua hàng rào vào nhà số 43, đường Tam Hà, khu phố 4, phường Tam Phú, quận Thủ Đức trốn thì bị anh Phúc cùng người dân bắt quả tang Diệu cùng vật chứng giao cho Công an phường Tam Phú, quận Thủ Đức xử lý.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSTĐ ngày 30/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Quách Ngọc Diệu về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, sau khi trình bày bản luận tội vị đại diệnViện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quách Ngọc Diệu về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Quách Ngọc Diệu 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Quách Ngọc Diệu đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra Viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo Quách Ngọc Diệu phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ ngày 26/9/2019, Quách Ngọc Diệu thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 9.200.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thu tại cửa hàng Ngọc Thu số 8, đường 3, Khu phố 3, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Quách Ngọc Diệu đã cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Về tình tiết định khung tăng nặng: Xét bị cáo Quách Ngọc Diệu đã tái phạm, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung tặng nặng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là có căn cứ.

[4]. Về nhân thân: bản thân bị cáo Quách Ngọc Diệu bị kết án nhiều lần, đã thi hành xong toàn bộ bản án, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản do đó cho thấy nhân thân của bị cáo rất xấu.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản phạm tội đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì.

[7]. Vật chứng vụ án: 01 USB ghi lại việc Diệu thực hiện hành vi trộm (kèm theo hồ sơ vụ án).

[8]. Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Quách Ngọc Diệu phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Quách Ngọc Diệu 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2019

2. Về án phí: Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo Quách Ngọc Diệu phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ