vanban.org

Bản án 13/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lữ Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lữ Tuấn K 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2019. Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Lữ Tuấn K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tải sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lữ Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 13/2020/HSST
Ngày: 03/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thống

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Dung

2. Ông Nguyễn Văn Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, đường N, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/QĐST-HS ngày 13/3/2020 đối với bị cáo:

Lữ Tuấn K, sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: đường X, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Ngọc S và bà Vũ Thị Kim O; vợ: Trang Huỳnh Kỳ D; con: 02, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo bản án số 312/2008/HSST ngày 17/11/2008, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo bản án số 24/2012/HSST ngày 20/3/2012; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bò baét taïm giöõ ngaøy: 27/11/2019; taïm giam ngaøy: 06/12/2019 tại nhà tạm giữ Công an quận Phú Nhuận. Bò caùo coù maët taïi phieân toøa.

Bị hại: Ông Hà Trọng Đ, sinh năm 1982

Địa chỉ: đường T, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1989

Địa chỉ: đường T, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 25/11/2019, Lữ Tuấn K đi bộ ngang qua quán cafe địa chỉ đường H, Phường M, quận P thì thấy xe môtô hiệu Honda Lead, biển số 59Y2-238.05 của anh Hà Trọng Đ đang dựng trước quán, có cắm sẵn chìa khóa ổ khóa nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt. K quan sát xung quanh thấy không có ai để ý nên ngồi lên xe nổ máy chạy đến tiệm game bắn cá trên đường C, Phường B, quận P gặp và bán xe trên cho một đối tượng tên R (không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng, tiền bán xe K tiêu xài cá nhân gần hết chỉ còn lại 70.000 đồng. Ngày 27/11/2019, K bị bắt khẩn cấp. Tại cơ quan điều tra, K khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Theo kết luận ngày 05/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự

- Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận: xe môtô hiệu Honda Lead, biển số 59Y2- 238.05 trị giá 8.000.000 đồng (bút lục 55).

Theo bản cáo trạng số 11/CT-VKSPN ngày 07/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Lữ Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lữ Tuấn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo.

Sau khi phát biểu ý kiến kết luận về vụ án, phân tích đánh giá các chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên mức án đối với bị cáo Lữ Tuấn K từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại anh Đ, tiếp tục truy xét tìm chiếc xe, trả lại quần cho bị cáo, trả lại cho anh Đ 70.000 đồng đang nộp tại kho bạc nhà nước quận Phú Nhuận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lữ Tuấn K: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình; kính mong Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lữ Tuấn K tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với lời khai của bị hại. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản bắt người khẩn cấp, lấy lời khai, biên bản hỏi cung, thu giữ vật chứng, kết quả định giá … cùng các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 25/11/2019, bị cáo đi bộ ngang qua quán cafe địa chỉ đường H, Phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy xe môtô hiệu Honda loại Lead, biển số 59Y2-238.05 của anh Hà Trọng Đ đang dựng trước quán, có cắm sẵn chìa khóa ổ khóa nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo quan sát xung quanh thấy không có ai để ý nên ngồi lên xe nổ máy chạy đến tiệm game bắn cá trên đường C, Phường B, quận P bán xe trên cho một đối tượng tên R (không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng, tiền bán xe bị cáo tiêu xài cá nhân gần hết chỉ còn lại 70.000 đồng. Ngày 27/11/2019, bị cáo bị bắt khẩn cấp.

Về tình tiết định khung hình phạt: Với những tình tiết được chứng minh như trên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Lữ Tuấn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo Lữ Tuấn K tính đến ngày phạm tội có 02 tiền án đã xóa nhưng vẫn tiếp tục phạm tội điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật, tài sản không thu hồi được. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo đã tỏ thái độ thành khẩn khai báo. Hội đồng xét xử nghĩ có chiếu cố giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là thỏa đáng.

Tội phạm của bị cáo thực hiện là nguy hại cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng do tính tư lợi, tham lam, lười biếng lao động nên bị cáo đã phạm tội, bị cáo trước đây đã từng phạm tội, hành động của bị cáo đáng bị lên án. Do đó, khi lượng hình cần có hình phạt nghiêm, buộc bị cáo tiếp tục chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong tình hình phạm tội về cướp giật và trộm cắp tài sản ngày càng gia tăng.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe môtô hiệu Honda Lead, biển số 59Y2-238.05: Qua xác minh chiếc xe trên do bà Huỳnh Ngọc L đứng tên sở hữu, hiện không thu hồi được.

- 01 USB chứa hình ảnh K trộm cắp xe Honda loại Lead tại trước chỉ đường H, Phường M, quận P.

- Tiền Việt Nam: 70.000 đồng là số tiền K bán xe lấy trộm có được sau khi tiêu xài còn lại, đang nộp tại kho bạc nhà nước quận Phú Nhuận (bút lục số 91).

- Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 quần ngắn màu cam: K dùng để mặc lúc thực hiện hành vi lấy trộm xe.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa ông Hà Trọng Đ và bà Huỳnh Ngọc L vắng mặt, tuy nhiên tại hồ sơ thể hiện bà L (chủ sở hữu đứng tên xe) đã giao xe cho chồng là ông Đ toàn quyền quyết định, ông Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000đ (bút lục số 92, 93). Bị cáo Lữ Tuấn K đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông Hà Trọng Đ số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng nhưng được trừ đi số tiền 70.000 (bảy mươi ngàn) đồng là số tiền K bán xe lấy trộm có được sau khi tiêu xài còn lại, đang nộp tại kho bạc nhà nước quận Phú Nhuận (bút lục số 91)

Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn không có khả năng nộp phạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lữ Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lữ Tuấn K 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2019.

Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Lữ Tuấn K.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 468, Điều 590, Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015;

Ghi nhận việc bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông Hà Trọng Đ số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng nhưng được trừ đi số tiền 70.000 (bảy mươi ngàn) đồng đang nộp tại kho bạc nhà nước quận Phú Nhuận (bút lục số 91). Buộc bị cáo Lữ Tuấn K phải bồi thường thiệt hại cho ông Hà Trọng Đ số tiền 6.930.000 (Sáu triệu chín trăm ba mươi ngàn) đồng theo phương thức bồi thường một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thực hiện tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về vật chứng: Căn cứ khoaûn 1 Điều 47 Boä luaät hình söï năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoaûn 2, 3 Ñieàu 106 Boä luaät toá tuïng hình söï năm 2015.

- 01 xe môtô hiệu Honda loại Lead, biển số 59Y2-238.05: Qua xác minh chiếc xe trên do bà Huỳnh Ngọc L đứng tên sở hữu, hiện không thu hồi được. Đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận tiếp tục truy xét, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

- Lưu hồ sơ 01 USB chứa hình ảnh bị cáo K trộm cắp xe Honda Lead tại trước chỉ đường H, Phường M, quận P.

- Trả cho ông Hà Trọng Đ 70.000 (bảy mươi ngàn) đồng là số tiền bị cáo K bán xe lấy trộm có được đang nộp tại kho bạc Nhà nước quận Phú Nhuận (bút lục số 91).

- Trả lại cho bị cáo K 01 quần ngắn màu cam mặc lúc thực hiện hành vi lấy trộm xe.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2020).

Aùp duïng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 phaàn III Thoâng tö lieân tòch soá 01/TTLT, ngaøy 19/06/1997 cuûa Toøa aùn nhaân daân toái cao, Vieän kieåm saùt nhaân daân toái cao, Boä Tö phaùp, Boä Taøi chính höôùng daãn vieäc xeùt xöû vaø thi haønh aùn veà taøi saûn ñoái vôùi khoaûn tieàn noäp phaït, tieàn do phaïm toäi maø coù.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện việc thi hành án thì còn phải trả thêm tiền lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 346.500 (ba trăm bốn mươi sáu ngàn năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận toàn sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nôi nhaän:

Cỡ chữ