- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thị H(tên gọi khác là M) phạm tội Mua bán trái
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HƯNG YÊN Số: 13/2020/HSST Ngày 26/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M – TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Trọng;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thìn và bà Vũ Thu Hiền.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Cán bộ Toà
án nhân dân thị xã M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: Bà Đặng Hiền Dung -
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã M.
Ngày 26/02/2020, tại trụ sở, Toà án nhân dân thị xã M mở phiên toà công
khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2019/HSST ngày 31/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/HSST - QĐ ngày 11/02/2020 đối với các bị cáo:
1. Hồ Thi ̣ H, sinh năm 1994; Giới tính: Nữ;
Tên gọi khác: M.
Noicư trú:Tổ dân phố sô1,́thị trấn K,huyê ̣n P,tỉnh Quảng Nam;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gié Triêng; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ H1 vấn: 10/12;
Con ông Hồ Văn M, sinh năm 1969 và bà Hồ Thi ̣ H, sinh năm 1970;
Có chồng là Trần Văn H (đa ly hôn) và 02 con, lỡ
́ n sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không;
Tạm giữ từ ngày 19/9/2019, tạm giam từ ngày 21/9/2019, hiê ̣n đang bi ̣ ta ̣m
giam ta ̣i Tra ̣i ta ̣m giam Công an tỉnh Hưng Yên; Có mặt.
2. Lương Văn H1, sinh năm 1999; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyê ̣n K, tỉnh Nghệ An;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Tự do;
Con ông Lương Phò V, sinh năm 1964 và bà Lương Me ̣ V, sinh năm 1965;
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Tạm giữ từ ngày 19/9/2019, tạm giam từ ngày 21/9/2019, hiê ̣n đang bi ̣ ta ̣m
giam ta ̣i Tra ̣i ta ̣m giam Công an tỉnh Hưng Yên; Có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Thị Hvà Lương Văn H: Bà Vương Thị
Thanh N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Ngô Thị N, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn D xã D, thị xã M, tỉnh
Hưng Yên; Vắng mặt.
2. Chị Hồ Thị N 1(tên gọi khác là Hồng), sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn 5,
xã P huyện P, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
3. Anh Khúc Chí D, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện V, tỉnh
Hưng Yên; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Lương Văn H1 và Hồ Thị H (tên go ̣i khác là M) có quan hệ bạn bè từ trước .
Khoảng đầu tháng 9/2019 H1 đến thị xã M và nhờ H tìm viê ̣c làm hô ̣. H đa giỡ ́ i thiê ̣u H 1 đến xin làm tại quán Karaoke Sinh Viên có địa chỉ tại tổ dân phố Đ
, phườ ng B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, do chi ̣ Ngô Thi ̣ N và anh Kiều Quang H làm chủ. Anh H và chị N chưa nhâ ̣n H1 làm nhân viên nhưng vẫn để cho Ho1 sinh hoa ̣t tại quán và hứa khi quán có đông khách sẽ cho H1 làm và trả lương.
Khoảng hơn 15 giờ ngày 19/9/2019, H1 gọi điện cho H hỏi mua 04 viên ma
túy MDMA. H đồng ý bán vớ i giá 450.000 đồng/ 1 viên, sau đó H1 thuê 01 chiếc taxi biển số 89A-002.64 của anh Nguyễn Đức L rồi đi đến nhà tro ̣ của Ha. Khi đến nơi, H1 gă ̣p H, H đa đưa cho H1 01 gói giấy kiểu giấy ăn màu trắng bên trong chứã 04 viên ma túy. H1 đưa cho H số tiền 1.000.000 đồng thi H nói với H1 “em còn nợ
̀ chị 800.000 đồng nhé”. H1 đồng ý và cầm số ma túy trên đi ra xe ô tô taxi biển số 89A-002.64 để về quán karaoke của chị N , anh H. Khi đi đến khu vực tổ dân phố N, phườ ng P, thị xã M là khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã M phối hợp cùng Công an phườ ng P đã tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ vật chứng gồm: tại túi quần phía sau bên phải của H 1 01 gói giấy kiểu giấy ăn màu trắng bên trong có 04 viên da ̣ng nén (02 viên hinh hô ̣p vuông màu cam , kích
̀ thướ c 0,4 x 0,8 x 0,8 cm, trên mỗi viên đều có chữ “Z”; 02 viên hinh chữ nhâ ̣t màu
̀ hồng nha ̣t, kích thước 12 x 0,8 x 0,4cm, trên mỗi viên nén có chữ “durex”). Ngoài ra còn quản lý của H1 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃
u Realme màu xanh bên trong lắp 02 sim có số thuê bao0905864374và 0327936320.
Ngày 19/9/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M khám xét khẩn cấp
chỗ ở của H1 tại quán karaoke Sinh Viên nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H thu giữ 01 túi xách giả da màu đen không rõ nhãn hiệu, 01 ví giả da màu đỏ, số tiền 19.800.000 đồng, 01 quần bò màu xanh loa ̣i quần ngố thu ta ̣i móc treo quần áo trong nhà vệ sinh, 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng loa ̣i Redmi hang Xiaomi mã
̀u đen bên trong lắp sim có số thuê bao0966223376.
Tại bản kết luận giám định số 565/PC09 ngày 22/9/2019 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất da ̣ng viên nén hinh hô ̣p vuông
̀ màu da cam , mô ̣t mă ̣t viên nén có chữ “Z” trong niêm phong ký hiê ̣u M , có tổng khối lượng là 0,707g (Không phẩy bẩy không bẩy gam) là ma túy, là loại: MDMA. Mẫu chất da ̣ng viên nén hinh hô ̣p chữ nhâ ̣t màu hồng nha ̣t , mô ̣t mă ̣t viên nén có
̀ chữ “durex” trong niêm phong ký hiê ̣u M , có tổng khối lượng là : 0,916g (Không phẩy chín một sáu gam ) là ma túy , là loại: MDMA. Hoàn lại 1,494g (Mô ̣t phẩy bốn chin bốn gam) MDMA trong niêm phong ghi M.
́
Quá trình điều tra Lương Văn H1 và Hồ Thị H đã thành khẩn nhận hành vi
phạm tội của mình như đa nêu trên . Ngoài ra H1 còn khai: Ngày 19/9/2019 chị Ñ có nhờ H1 đi mua ma túy để chi ̣ N cùng H1 và nhân viên quán karaoke Sinh Viên sử du ̣ng. Chị N bảo một nhân viên của quán tên là M (không biết ho ̣ tên đê ̣m và đi ̣a chỉ) đưa cho H1 số tiền 1.000.000 đồng để đi mua ma túy . chị Hoàng Thị N (tên go ̣i khác là H) là nhân viên quán karaoke Sinh Viên gọi taxi cho H1.
Hồ Thi ̣ H khai nhâ ̣n nguồn gốc số ma túy bán cho H 1 là do H được các
khách hát karaoke cho không rõ ai và lúc nào . Trướ c đó (không nhớ cu ̣ thể ngày tháng) H đa mô ̣̃
t lần cho anh Khúc Chi D 01 viên ma túy để sử dụng và H là người
́
đến lấy ma túy hộ anh D . Viên ma túy này cũng là H được khách hát cho nhưng không sử du ̣ng.
Đối với hành vi H khai mua ma túy hô ̣ chi ̣ N , Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an thi ̣ xa Mỹ
Hã ̀o đ ã tiến hành lấy lời khai nhưng chị N đều khẳng định chị N không nhờ H mua ma túy hô ̣. Cơ quan điều tra đa tiến hã
̀nh cho chi ̣ N đối chất nhưng H và chị N vẫn giữ nguyên lờ i khai. Đối với đối tượng H khai tên M đã đưa cho H 1.000.000 đồng mua ma túy cơ quan điều tra đa xã ́c minh nhưng chưa xác đi ̣nh được nên tiếp tu ̣c điều tra xác minh giải quyết sau.
Đối với anh Khúc Chí D , H khai đa cho ma tũ
́y , anh D xác định ngày 17/9/2019 anh D đa xin Hã
̀ 01 viên ma túy tổng hợp để sử du ̣ng ta ̣i quán karaoke Sinh Viên mô ̣t minh không ai biết . Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa M đã
̃
̀ ra quyết đi ̣nh xử pha ̣t vi pha ̣m hành chinh đối vớ i anh D về hành vi S ử dụng trái
́
phép chất ma túy.
Đối với 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃
u Realme màu xanh bên trong lắp 02 sim có số thuê bao 0905864374 và 0327936320, qua điều tra xác đi ̣nh là của chi ̣ Hồ Thị N 1(tên go ̣i khác là H), sinh năm 1996, hô ̣ khẩu thườ ng trú ở thôn5, xã P, huyê ̣n P, tỉnh Quảng Nam , là nhân viên quán karaoke Sinh Viên . Chị N 1không biết H mượn để sử du ̣ng vào viê ̣c pha ̣m tô ̣i. Chị N 1đề nghị được nhận lại tài sản nói trên.
Đối với số tiền19.800.000 đồng thu giữ của H, qua điều tra xác đi ̣nh1.000.000
đồng là tiền H bán ma túy cho H1, số tiền còn la ̣i là không liên quan đến viê ̣c pha ̣m tô ̣, i H đề nghị được nhận lại. Đối với01 túi xách giả da màu đen không rõ nhãn hiệu và01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng loa ̣i Redmi hang Xiaomi mã
̀u đen(bên trong có lắp01 sim) là tài sản của H không liên quan đến viê ̣c pha ̣m tô ̣, tuy nhiên H không coi
́ nhu cầu nhâ ̣n la ̣i số tài sản nêu trên. Đối với01 quần bò màu xanh loa ̣i quần ngố thu ta ̣i móc treo quần áo trong nhà vệ sinh nhà trọ của H được xác đi ̣nh là tài sản của H1, H1 không có nhu cầu nhâ ̣n lại tài sản nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT - VKSMH ngày 31/12/2019 của Viện kiểm sát
nhân dân thị xã M đã truy tố bị cái Hồ Thị H(tên gọi khác là M) về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS; truy tố bị cáo Lương Văn H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà:
+ Các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như nội dung cáo
trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M giữ nguyên quyết định truy tố
và đề nghị: Căn cứ khoản 1, 5 Điều 251 (đối với Hà); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với Học); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Xử phạt bị cáo Hồ Thị H(tên gọi khác là M) 02 năm 06 tháng tù - 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2019; Xử phạt bị cáo Lương Văn H1 02 năm tù - 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2019; Phạt tiền bị cáo Hồ Thị H5.000.000 đồng - 8.000.000 đồng, nộp ngân sách nHnước; Vật chứng và biện pháp tư pháp: Trả lại chị Hồ Thị N 101 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh có số Imel 867013049299832 và 867013049299824, bên trong lắp 02 chiếc sim điện thoại; Trả lại bị cáo Hồ Thị H(tên gọi khác là M) số tiền 18.800.000 đồng; Tịch thu, nộp ngân sách nHnước số tiền 1.000.000 đồng; Tịch thu, nộp ngân sách nHnước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen có số Imel 86928804640175 và 869288047304170 (riêng chiếc sim điện thoại lắp trong chiếc điện thoại này thì tịch thu, cho tiêu huỷ); Tịch thu, cho tiêu huỷ 01 chiếc túi xách giả da màu đen, 01 chiếc ví giả da màu đỏ, 01 chiếc quần bò màu xanh loại quần ngố và 01 chiếc phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 565/PC09; Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Người bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí với tội danh, các chứng cứ chứng
minh hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho hai bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên , Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra , truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo và
̀ những người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi , quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣n g, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa ̃ thực hiê ̣n đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp khách
quan với Biên bản kiểm tra được Công an thị xã M lập đối với Lương Văn H1, biên bản niêm phong đồ vật là gói giấy ăn bên trong có 04 viên nén dạng hình hộp vuông và hình hộp chữ nhật, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng là các anh Nguyễn Đức L và Phạm Xuân H, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ ngày 19/9/2019, tại phòng trọ của Hồ Thị Hcó địa chỉ tại tổ dân phố N, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Hbán trái phép 04 viên ma tuý, loại MDMA, có tổng khối lượng 1,623g cho Lương Văn H1 với số tiền 1.000.000đ. Sau đó, H1 cất giấu số ma tuý này trong người rồi đi ra xe taxi bị cáo thuê trước đó của anh Nguyễn Đức L thì bị Công an thị xã M kiểm tra, thu giữ số ma tuý nói trên.
Hành vi bán trái phép chất ma tuý của Hvà hành vi cất giấu trái phép
chất ma tuý trên người của H1 đã thoả mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do khối lượng chất ma tuý các bị cáo giao dịch và cất giấu dưới 05g, nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã M truy tố bị cáo Hồ Thị Hvề tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS và truy tố bị cáo Lương Văn H1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Anh Nguyễn Đức L là lái xe taxi được bị cáo H1 thuê để đưa đến chỗ ở
của bị cáo H, nhưng anh L không biết H1 đến đây để mua ma tuý, nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh L. Đối với lời khai của H1 xác định số ma tuý bị cáo mua của Hlà do chị Ngô Thị N nhờ bị cáo mua hộ, cũng như số tiền 1.000.000 đồng có nguồn gốc do chị N bảo chị M là nhân viên quán Karaoke Sinh viên đưa cho H1, nhưng chị N phủ nhận lời khai này của H1, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng không thể hiện có sự việc này, nên không có căn cứ xác định chị N đồng phạm với H1; đối với nhân viên theo bị cáo H1 khai tên là Mai, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý sau là có căn cứ.
Các bị cáo quen biết nhau từ trước, mặc dù không có sự hứa hẹn trước,
nhưng do biết Hcó ma tuý, H1 đã giao dịch, mua bán với H. Hành vi phạm tội của các bị cáo là liên quan, tạo điều kiện cho nhau để tàng trữ, cung cấp chất ma tuý ra xã hội, gây mất trật tự, an toàn tại địa phương, là tiền đề phát sinh tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đồng thời tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa loại tội phạm này.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét trong
giai đoạn điều tra và tại phiên toà, các bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối hận về hành vi phạm tội; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết, nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế. Cho nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.
Bị cáo Hcó công việc, thu nhập và tài sản riêng, bán trái phép chất ma
tuý nhằm thu lời, nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Hà; bị cáo H1 không có việc làm và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Học.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh bên trong lắp 02
sim điện thoại là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Hồ Thị N 1cho H1 mượn, nhưng chị N 1không có lỗi trong việc H1 sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma tuý, chị N 1yêu cầu nhận lại là có căn cứ, nên trả lại cho chị N 1chiếc điện thoại này. Đối với số tiền 19.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Hà, trong đó số tiền 1.000.000 đồng do Hbán ma tuý, nên tịch thu nộp ngân sách nHnước; số tiền còn lại là 18.800.000 đồng không liên quan tới hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo Hà. Đối với các tài sản gồm túi xách, ví là tài sản của Hvà chiếc quần bò là tài sản của H1, tuy không liên quan tới hành vi phạm tội, nhưng hai bị cáo không yêu cầu nhận lại, nên tịch thu cho tiêu huỷ. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi bên trong lắp 01 sim điện thoại là tài sản của Hđược sử dụng để liên lạc bán ma tuý cho H1 nên tịch thu, nộp ngân sách nHnước (chiếc sim điện thoại thì tịch thu cho tiêu huỷ); chiếc phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định là vật nHnước cấm lưu hành, nên tịch thu cho tiêu huỷ.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thị H(tên gọi khác là M) phạm tội Mua bán trái
phép chất ma tuý; bị cáo Lương Văn H1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý;
2. Căn cứ: Khoản 1, 5 Điều 251 (đối với H); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối
với H1); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
3. Xử phạt:
3.1. Bị cáo Hồ Thị H(tên gọi khác là M) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2019;
3.2. Bị cáo Lương Văn H1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày tạm giữ 19/9/2019;
4. Phạt tiền bị cáo Hồ Thị H(tên gọi khác là M) 5.000.000 đồng (Lăm triệu
đồng), nộp ngân sách nHnước;
5. Vật chứng và biện pháp tư pháp:
5.1. Trả lại chị Hồ Thị N 1(tên gọi khác là Hồng), sinh năm 1996, địa chỉ:
Thôn 5, xã P, huyện P, tỉnh Quảng Nam 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh có số Imel 867013049299832 và 867013049299824, bên trong lắp 02 chiếc sim điện thoại;
5.2. Trả lại bị cáo Hồ Thị H(tên gọi khác là M) số tiền 18.800.000 đồng
(Mười tám triệu tám trăm nghìn đồng);
5.3.Tịch thu, nộp ngân sách nHnước số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu
đồng);
(Các khoản tiền nói trên hiện đang có trong tài khoản của Chi cục Thi hành
án Dân sự thị xã M);
5.4. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Redmi màu đen có số Imel 86928804640175 và 869288047304170 (riêng chiếc sim điện thoại lắp trong chiếc điện thoại này thì tịch thu, cho tiêu huỷ);
5.5. Tịch thu, cho tiêu huỷ 01 chiếc túi xách giả da màu đen, 01 chiếc ví giả
da màu đỏ, 01 chiếc quần bò màu xanh loại quần ngố và 01 chiếc phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 565/PC09;
6. Án phí: Hồ Thị H(tên gọi khác là M) và Lương Văn H1, mỗi bị cáo phải
chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
7. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND thị xã M; - CQĐT, THA Hình sự thị xã M; - THA Dân sự thị xã M; - Bị cáo; Đương sự; Lưu VP; Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Tuấn Trọng |