vanban.org

Bản án 13/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 09/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Như Minh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Như M 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/12/2019. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Như M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Như Minh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 13/2020/HSST
Ngày 09-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Thành

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đức và ông Lý Văn Hòe

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2020/TLST - HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Như M (tên gọi khác: T mắt xanh), sinh năm 1995 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Thôn 7, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn 5, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; con ông Hoàng Văn S và bà Đặng Thị Thùy V; bị cáo có vợ đã ly hôn và 01 con; tiền sự: Không; tiền án: 01, ngày 28/11/2018 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù tại Bản án số 53/2018/HSST, bị bắt tạm giữ ngày 27/12/2019, sau đó chuyển tạm giam - có mặt

- Bị hại: Anh K’B, địa chỉ: Thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt

- Người làm chứng: Anh K’V, địa chỉ: Thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 10/12/2019, Hoàng Như M đến quán Ốc Gia Phát thuộc thôn 6, xã Q uống rượu cùng với nhóm bạn gồm: Nguyễn Thành H, Bùi Văn N, Trần Văn T, Lê Thị L và hai người có tên là C, S (chưa rõ nhân thân lai lịch). Trước khi đi, M mang theo 01 gậy sắt (loại gậy 03khúc, thường gọi là cây dũ). Một lúc sau, anh K’B (sinh năm 1993) cùng với em rể là anh K’V (sinh năm 1994) cùng trú tại thôn 6, xã Q đến ngồi uống rượu bên cạnh bàn nhậu của M. Trong lúc uống rượu, thấy chị L trong bàn của M hút thuốc lá nên anh K’B và anh K’V có nhìn sang. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm bạn của M thanh toán tiền ra về trước. M vẫn còn nán lại đi sang bàn của anh K’B mời uống rượu và hỏi “Sao hai anh lại nhìn em dữ vậy”. Anh K’V trả lời “thấy quen thì nhìn thôi”. Nghe vậy, M nói lại “em mới từ Di Linh qua đây, mới gặp lần đầu sao quen được”. Sau đó, anh K’V quay sang nói chuyện với anh K’B bằng tiếng dân tộc Mạ. Thấy vậy, M bỏ ra về nhưng đi được một đoạn chợt nghĩ rằng các anh K’B và K’V đã nhìn đểu mình nên quay lại quán tìm đánh anh K’B và anh K’V. Đến nơi, thấy anh K’B, anh K’V vừa ra khỏi quán đang đi bộ trên Quốc lộ 28. M liền đi theo sau, trên tay cầm sẵn gậy sắt giấu trong người. Khi đi đến gần cột điện trước quán cà phê Cá gỗ thuộc thôn 6, xã Q, M tiến sát phía sau vỗ lên vai phải của anh K’B. Anh K’B vừa quay đầu lại về phía bên phải thì bị M tay phải cầm gậy đánh từ trên xuống theo hướng từ phải sang trúng vào phía sau đỉnh đầu bên phải của K’B. Tiếp đó, M đánh thêm một gậy nữa trúng vào vai phải của anh K’B. Bị đánh bất ngờ, anh K’B bỏ chạy thì bị M đuổi theo tiếp tục dùng gậy đánh tiếp nhưng trượt phía sau lưng. Sau khi bị đánh, anh K’B được đưa đi chữa trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Đ, còn M bỏ trốn về nhà tại thôn 7, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng và giấu gậy sắt tại giường ngủ của mình. Ngày 14/12/2019, anh K’B có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án. Đến ngày 27/12/2019, Minh bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong bắt, tạm giữ, xử lý theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra vụ án, Hoàng Như M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. M tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh K’B số tiền 1.000.000 đồng. Mặt khác, anh K’B bị thương tích không nặng.

Tại bản giám định pháp y về thương tích số 45/TgT ngày 31/12/2019 của Trung tâm giám định pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông kết luận thương tích của anh K’Bèo như sau: 01 sẹo vết thương phần mềm đỉnh chẩm kích thước trung bình, tỷ lệ 02%. Vết thương do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động theo hướng từ sau ra trước gây nên.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 01 gậy sắt (loại gậy ba khúc, kéo dài 63cm, đường kính lớn nhất 2,5cm, nhỏ nhất 01 cm, được bọc cao su màu đen)

Về trách nhiệm dân sự: Anh K’B yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe số tiền 8.000.000 đồng. M đã tác động gia đình nộp số tiền 1.000.000 đồng để bồi thường một phần thiệt hại. Số tiền này đang được gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.

Bản cáo trạng số 13/CTr-VKS ngày 27 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Hoàng Như M về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 gậy sắt (loại gậy ba khúc, kéo dài 63cm, đường kính lớn nhất 2,5cm, nhỏ nhất 01 cm, được bọc cao su màu đen).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 của Bộ luật dân sự công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, theo đó bị cáo Hoàng Như M có trách nhiệm bồi thường cho anh K’B số tiền 8.000.000đ; chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường cho anh K’B số tiền 1.000.000đ, đang được gửi trong tài khoản của Chi cục THADS huyện Đắk Glong; bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 7.000.000đ

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Khoảng 22 giờ ngày 10/12/2019, tại thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, mặc dù không quen biết và không có mâu thuẫn gì với nhau, M đã vô cớ dùng gậy sắt đánh trúng vào phía sau đỉnh đầu bên phải của anh K’B. Hậu quả, anh K’B bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Sau đó, anh K’B đã có đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với M. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng …..hung khí nguy hiểm ….:

…….

i) có tính chất côn đồ;

….”

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm vì bị cáo biết sức khỏe của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm minh; xét thấy giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì và cũng không có mối quan hệ quen biết, tuy nhiên vì nghĩ anh K’B nhìn đểu bị cáo nên bị cáo đã gây thương tích cho anh K’B, hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự; hung khí bị cáo sử dụng để đánh anh K’B là 01 gậy sắt; tại tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 phần I, Nghị quyết số 02/2003/NĐ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn thuộc hung khí nguy hiểm nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự; xét thấy, cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

[4]. Về nhân thân: Bị cáo 01 tiền án về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, lẽ ra bị cáo phải lấy làm bài học, tuy nhiên bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt; tuy nhiên cũng cần xem xét, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại khắc phục hậu quả đồng thời tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 01 gậy sắt (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/2/2020 giữa cơ quan CSĐT công an huyện Đắk Glong và Chi cục THADS huyện Đắk Glong).

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và anh K’ B thống nhất mức thỏa thuận bồi thường số tiền 8.000.000đ; bao gồm tiền tổn thất về tinh thần, tiền công những ngày điều trị không đi làm được (từ ngày 10/12/2019-16-12-2019), tiền thuốc điều trị. Xét việc anh K’B và bị cáo thỏa thuận là tự nguyện nên cần chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho anh K’B số tiền 1.000.000đ, đang được gửi trong tài khoản của Chi cục THADS huyện Đắk Glong; bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 7.000.000đ theo thỏa thuận.

[7]. Xét quan điểm của đại diện VKS về tội danh, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, về trách nhiệm bồi thường là có căn cứ.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Như Minh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Như M 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/12/2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 01 gậy sắt (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/2/2020 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong và Chi cục THADS huyện Đắk Glong).

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 của Bộ luật dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Hoàng Như M và bị hại anh K B. Theo đó bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh K’ B số tiền 8.000.000; chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường cho anh K’B số tiền 1.000.000đ, đang được gửi trong tài khoản của Chi cục THADS huyện Đắk Glong; bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 7.000.000đ. Khi bản án có hiệu lực pháp luật bị hại liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Glong để nhận số tiền 1.000.000 bị cáo đã bồi thường.

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ