vanban.org

Bản án 13/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 24/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Xử phạt: Huỳnh Tấn D 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; Bị cáo Huỳnh Tấn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phúc thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HS-PT
Ngày 24 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nghĩa

Các Thẩm phán:

Ông Trần Anh Khoa

Bà Lâm Vương Mỹ Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Chiến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhơn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 220/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Huỳnh Tấn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Tấn D, Sinh năm 1995, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn C và bà Nguyễn Thị N; Tiền án, tiền sự: Không: Bị áp dụng bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”: Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn T, Luật sư, Văn phòng luật sư Lê Văn T và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh K: Có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/5/2019, Trần Thị Hữu H nhờ Nguyễn Quốc Đ điều khiển xe mô tô 79V1-425.79 chở đến nhà Nguyễn Thị N (chị ruột của Nguyễn Thị L) tại thôn T, xã V, huyện N để tìm L đòi khoản tiền H cho L vay trước đó. Trên đường đi, H và Đ gặp người quen là Võ Minh T đang điều khiển xe mô tô 79V1-348.40 chở Đỗ Văn S đi dạo mua cây cảnh gần đó nên tất cả cùng đi đến nhà N. Khi vừa đến cửa ngõ nhà N thì H gặp N và L cũng vừa về. H hỏi L về số tiền nợ và xảy ra cãi vã, xô xát nhau giữa H, N và L. H cầm mũ bảo hiểm trên tay giơ lên định đánh N thì N lấy cây xẻng, L cầm một con dao định đánh lại H thì được Đ, S can ngăn.

Cùng lúc này, Huỳnh Tấn D cùng Huỳnh Tấn C đang xem đá gà tại thôn T, xã V, huyện N nhận được điện thoại từ Nguyễn Thị N (mẹ ruột D) nói rằng bà và Nguyễn Thị L (dì ruột D) đang bị người khác đánh ở nhà. D lấy mô tô biển kiểm số 79V1-350.95 của C đang dựng ở gần đó đi về nhà. Khi gần về tới nhà, thấy Trần Thị Hữu H đang đứng trước cửa ngõ nhà mình, trên tay cầm mũ bảo hiểm đang đánh nhau với N và L, D điều khiển xe mô tô chạy thẳng về hướng H đang đứng, khi cách H khoảng 02 mét đến 03 mét, D nhảy khỏi xe và để xe mô tô lao vào chân trái của H. Thấy Đ, S, T đang đứng gần đó, D dùng cây gỗ đánh trúng vào đầu Đ (đang đội mũ bảo hiểm). Thấy Đ bị đánh, S dùng chân đạp D rồi cùng T bỏ chạy; D đuổi theo dùng gạch ném trúng đầu S (đang đội mũ bảo hiểm). H và Đ được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa cấp cứu và điều trị.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/TgT ngày 05/6/2019, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận Trần Thị Hữu H bị: Gãy kín 1/3 giữa hai xương cẳng chân trái, đã được phẩu thuật, hiện tại can xương xấu, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 25% (hai mươi lăm phần trăm).

Nguyễn Quốc Đ và Đỗ Văn S không yêu cầu xử lý hình sự và từ chối giám định.

Quá trình điều tra, Huỳnh Tấn D đã bồi thường cho Trần Thị Hữu H 10.000.000đ; Tại phiên tòa sơ thẩm D thỏa thuận sẽ bồi thường tiếp cho H 25.000.000đ.

Tại Bản án số 51/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1), điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn D 02 (hai) năm tù về tội ”Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 18 tháng 11 năm 2019, bị cáo Huỳnh Tấn D có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận diễn biến sự việc xảy ra đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và cho là bị cáo nhảy ra khỏi xe máy để ngăn cản việc mẹ bị cáo bị đánh, bị cáo không cố ý gây thương tích cho bị hại nên giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt. Bị cáo còn khai nhận các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toianf đúng sự thật, bị cáo không bị ép cung, mớm cung.

Phát biểu tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bào chữa cho bị cáo, người bào chữa cho là việc truy tố, xét xử bị cáo 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo là quá nặng. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chỉ vô ý gây thương tích, phạm tội do bị kích động bởi hành vi trái pháp luật của bị hại, đã bồi thường một phần thiệt hại. Vì vậy, có căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo và có thể cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận hành vi để xe máy lao thẳng vào bị hại nhằm làm cho bị hại bị thương và không đánh được mẹ bị cáo. Vì vậy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa về việc không cố ý gây thương tích cho bị hại là không có căn cứ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập và được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định, bị cáo đã cố ý để xe mô tô lao vào bị hại gây ra thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 25%.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Thấy bị hại và người thân của bị cáo đang xô xát, bị cáo không có biện pháp can ngăn phù hợp mà để xe mô tô do bị cáo điều khiển lao vào phía bị hại dẫn đến thương tích cho bị hại là hành vi coi thường cao độ tính mạng, sức khỏe của bị hại. Bị cáo đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Bản án sơ thẩm đã nhận định bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại, là người chưa có tiền án, tiền sự, bị hại có một phần lỗi khi đến nhà bị cáo kình cãi, đánh nhau với mẹ bị cáo nhưng trong phần quyết định của bản án chỉ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là thỏa đáng, kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận; Bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i Khoản 1), Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự,

Xử phạt: Huỳnh Tấn D 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án;

2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Bị cáo Huỳnh Tấn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ