vanban.org

Bản án 13/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trương Văn K 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn K phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R G
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HS-ST
Ngày: 18.02.2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Bùi Tấn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Minh Bôn.

2. Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 230/2019/TL-HSST ngày 23 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn K, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi sinh: A M - Kiên Giang; Nơi ĐKTT: ấp An Phú, xã Nam Du, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Tổ 5, khu phố A, thị trấn T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Công Kh và bà Trương Thị V; Vợ: Trần Thị Thơm E; Con: 03 người, lớn nhất 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020; Em ruột: 03 người, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được tại ngoại cho đến nay. (Có mặt).

* Người bị hại: Huỳnh Tuấn V1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Nhà cho thuê số 370/23, đường NTT, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

* Người làm chứng:

+ Chị Danh Thị P, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số 60/66 đường N V K, phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

+ Chị Trần Thị Thơm E, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

+ Chị Nguyễn Kim H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Hẻm 84 đường L H, phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ, ngày 21/7/2019, do đã có mâu thuẫn từ trước trong việc mua bán cá nên Huỳnh Tuấn V1 cầm 01 thanh kim loại, dài khoảng 107,2 cm, kích thước cạnh 4 x 2cm, rỗng ở giữa, đi đến chỗ Trương Văn K bán cá, trước nhà số 35 đường Lạc Long Quân, phường V L, thành phố R G (chợ Bắc Sơn). Lúc này K đang ngồi bán cá thì V1 dùng thanh kim loại đập vào thao cá và đánh trúng vào phần mềm vùng vai trái, ngực trái, tay trái của Trương Văn K. Bị đánh, K liền lấy 01 cây dao yếm để làm cá, lưỡi bằng kim loại đứng lên chém trúng vào bàn tay trái Huỳnh Tuấn V1 gây thương tích. Sau khi bị K gây thương tích V1 bỏ chạy và lượm được 01 cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 58 cm, cán dao có quấn băng keo đen định quay lại chém K thì bị lực lượng Công an phường V L khống chế mời V1 và K về làm việc. Nhưng do tay bị chảy nhiều máu nên Huỳnh Tuấn V1 được mọi người đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang. Ngày 25/7/2019 Huỳnh Tuấn V1 làm đơn yêu cầu khởi tố Trương Văn K; ngày 19/8/2019, K có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích. Đến ngày 04/10/2019, Trương Văn K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố R G khởi tố để điều tra.

* Tại bản kết luận giám định pháp y số: 522/KL-PY, ngày 12/9/2019, của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận về thương tích của người bị hại Huỳnh Tuấn V1 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo xơ cứng bàn tay trái đang đóng mày.

- Đứt gân duỗi ngón II, III tháu khớp ngón III. Hiện tại còn hạn chế chức năng vận động ngón II, III.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 21% (Hai mươi mốt phần trăm).

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y số: 567/KL-PY, ngày 04/10/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận về thương tích của người bị hại Trương Văn K như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương phần mềm vùng ngực trái, vai trái và cẳng tay trái đã được điều trị ổn. Hiện tại không có dấu vết thương tích.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 00% (Không phần trăm).

3. Vật gây thương tích: Vật tày; Vật chứng (thanh kim loại) gửi giám định gây được các chấn thương trên.

* Vật chứng trong vụ án:

+ 01 (một) thanh kim loại, dài khoảng 107,2 cm, kích thước cạnh 4 x 2cm và rỗng ở giữa.

+ 01 (một) cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 58 cm, cán dao có quấn băng keo đen.

+ Đối với 01 (một) cây dao yếm, lưỡi bằng kim loại, Trương Văn K dùng để chém Huỳnh Tuấn V1, K đã ném bỏ gần khu vực chợ Bắc Sơn, thuộc phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R G đã tiến hành rà soát, truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 23/12/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trương Văn K về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự (vì thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Văn K 02 năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Huỳnh Tuấn V1 yêu cầu bị cáo Trường Văn K bồi thường tiền chi phí điều trị, tiền công lao động bị mất số tiền 7.700.000 đồng. Bị cáo Trương Văn K đã bồi thường xong và người bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trương Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương tích cho người bị hại Huỳnh Tuấn V1 theo như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G đã truy tố, về tội danh, về điều luật áp dụng. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại V1 với số tiền là 7.700.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa người bị hại Huỳnh Tuấn V1 vắng mặt. Quá trình điều tra, truy tố người bị hại Huỳnh Tuấn V1 thể hiện quan điểm: Về trách nhiệm dân sự, bị cáo K đã bồi thường toàn bộ tiền chi phí điều trị, tiền công lao động bị mất cho V1 với tổng số tiền là 7.700.000 đồng, V1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, V1 đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phần nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố R G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ và tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa qua kết quả thẩm vấn, lời khai bị cáo, người làm chứng, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thể hiện: Do có mâu thuẫn từ trước trong quá trình làm ăn chung, mua bán cá với nhau. Vào khoảng 17 giờ, ngày 21/7/2019, trong lúc Trương Văn K đang ngồi bán cá trước nhà số 35 Lạc Long Quân, phường V L, thành phố R G thì Huỳnh Tuấn V1 đi tới dùng thanh sắt đánh trúng vào người Trương Văn K nhưng chưa gây thương tích thì bị K lấy 01 cây dao yếm, lưỡi bằng kim loại dùng để làm cá chém trúng vào bàn tay trái Huỳnh Tuấn V1 gây thương tích. Hậu quả V1 bị đứt gân duỗi ngón II, III, tháu khớp ngón III. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 21%, thương tích là do vật sắc gây ra.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Văn K thừa nhận thương tích của người bị hại Huỳnh Tuấn V1 là do bị cáo gây ra như đã nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng, lời khai người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo K gây thương tích cho người bị hại Huỳnh Tuấn V1 tỷ lệ thương tật 21%, do phương tiện bị cáo dùng để gây thương tích là 01 cây dao yếm, lưỡi bằng kim loại, được xác định là hung khí nguy hiểm, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong quá trình làm ăn chung, mua bán cá với nhau, bị cáo đã dùng 01 cây dao yếm, lưỡi bằng kim loại để chém, gây thương tích cho Huỳnh Tuấn V1. Hành vi của bị cáo là thể hiện bản tính hung hăng, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác và xem thường pháp luật; bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe mà còn gây tổn hại về tinh thần cho bị hại, gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này, sống có ích cho xã hội và làm gương cho người khác có ý định phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại, để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Vụ việc xảy ra có lỗi của người bị hại và người bị hại Huỳnh Tuấn V1 có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo Trương Văn K được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này, sống có ích cho xã hội và làm gương cho người khác có ý định phạm tội.

Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố R G về tội danh, về điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Tuy nhiên, về mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát thành phố R G đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trương Văn K 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm đối với bị cáo là chưa nghiêm, chưa đảm bảo mục đích trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung, nên không được chấp nhận.

Đối với Huỳnh Tuấn V1 đã có hành vi cố ý gây thương tích cho Trương Văn K nhưng chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R G chuyển xử lý hành chính đối với Huỳnh Tuấn V1 là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX miễn xét.

Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kim loại, dài khoảng 107,2 cm, kích thước cạnh 4 x 2cm và rỗng ở giữa và 01 (một) cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 58 cm, cán dao có quấn băng keo đen. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS, ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.

Đối với 01 (một) cây dao yếm, lưỡi bằng kim loại, Trương Văn K dùng để chém Huỳnh Tuấn V1, K đã ném bỏ gần khu vực chợ Bắc Sơn, thuộc phường V L, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được, nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trương Văn K đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo yêu cầu của người bị hại Huỳnh Tuấn V1, với tổng cộng số tiền là 7.700.000 đồng. Người bị hại V1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX miễn xét.

- Án phí hình sự sơ thẩm:

+ Án phí hình sự: Bị cáo Trương Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn K 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kim loại, dài khoảng 107,2 cm, kích thước cạnh 4 x 2cm và rỗng ở giữa và 01 (một) cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 58 cm, cán dao có quấn băng keo đen. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS, ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R G.

4. Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trương Văn K đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo yêu cầu của người bị hại Huỳnh Tuấn V1, với tổng cộng số tiền là 7.700.000 đồng. Người bị hại V1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX miễn xét.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 6, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trương Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ