vanban.org

Bản án 13/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 25/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: B cáo Nguyễn nh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt b cáo Nguyễn nh T 21 ai mươi mốt tháng t , thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 09/12/2019. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: B cáo Nguyễn nh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật ình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Bộ luật ình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HS-ST
Ngày: 25 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà ê Th à - Chủ t ch ội phụ nữ huyện Thanh iêm;

2. Ông Nguyễn Thế Quý - Cán bộ nghỉ hưu.

- Thư ký phiên toà: Bà oàng Th Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh iêm, tỉnh à Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên toà: Bà Phạm Th iên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh à Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2020, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020, đối với b cáo:

Nguyễn Anh T - sinh năm 1996, trú tại thôn HT, xã YB, huyện YY, tỉnh Nam Đ nh; nghề nghiệp: ao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; Quốc t ch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Phan Th H1; có vợ: ã Th Thanh T2 và 01 con sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: Ngày 26/3/2019, Công an xã Yên Bằng - huyện Ý Yên - tỉnh Nam Đ nh xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 15/4/2019, Công an xã Yên Bằng - huyện Ý Yên - tỉnh Nam Đ nh xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 25/4/2019, UBND xã Yên Bằng - huyện Ý Yên - tỉnh Nam Đ nh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, th trấn 6 tháng; b cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 09/12/2019 đến ngày 16/12/2019 chuyển tạm giam; hiện b cáo đang b tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh à Nam; có mặt.

* Bị hại: nh Trần Văn L - sinh năm 1991 và ch Nguyễn Th Thu T3 - sinh năm 1995; c ng cư trú: Thôn LN, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam;

Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Văn L: Ch Nguyễn Th Thu T3 - sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn LN, xã TH, huyện TL, tỉnh à Nam; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt .

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Cháu Nguyễn Văn B - sinh ngày 30/9/2004; có mặt;

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Văn B: Bà Nguyễn Th B1 - sinh năm 1959; vắng mặt.

C ng cư trú: Thôn QN, xã YK, huyện YY, tỉnh Nam Đ nh.

* Người làm chứng:

nh Phạm Mạnh Tr - sinh năm 1975; nơi cư trú: Tiểu khu LM, th trấn KK, huyện TL, tỉnh à Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn nh T và Nguyễn Văn B c ng một đối tượng tên Th hiện chưa xác đ nh được lai l ch đều nghiện ma túy quen biết nhau. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/12/2019, T, B, Th gặp nhau ở khu vực chân cầu Non Nước thuộc đ a phận huyện Ý Yên, tỉnh Nam Đ nh. Tại đây, Th rủ T, B đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau thì T và B đồng ý. Th chuẩn b công cụ gồm 01 kìm điện, 01 vam phá khóa, 01 lưỡi cưa sắt, 01 đoạn tuýp, 02 xà cày bằng sắt soắn một đầu dẹt để đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 20 giờ c ng ngày, T mượn chiếc điện thoại di động Masstel của B gọi điện thuê xe ô tô taxi đến đón tại khu vực chân cầu Non Nước. Sau đó, cả ba đi xe taxi đến khu vực huyện Thanh iêm, tỉnh à Nam thì xuống xe đi bộ lang thang tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi cả ba đang đi trên đường Q 1 hướng Ninh Bình - à Nam thì phát hiện nhà anh Trần Văn L ở thôn LN, xã TH, huyện TL, à Nam cửa khóa ngoài, trong nhà tắt điện. T liền dùng 01 đoạn tuýp sắt luồn vào giữa móc khóa cửa bẩy mạnh làm cho chiếc móc khóa bung ra. Sau đó, Th bảo B đứng ở v trí cửa ra vào để cảnh giới còn T và Th đi vào trong nhà lục tìm tài sản. Khi vào trong nhà, T thấy 01 bộ máy vi tính để trên bàn tại gian phòng khách liền lấy 01 cây máy vi tính kê ở phía dưới gầm bàn rồi bê ra để gần cửa ra vào. Tiếp theo, T mang 02 chiếc xà cày, 01 chiếc lưỡi cưa sắt, 01 chiếc kìm điện rồi đi xuống dưới gian tầng hầm thì thấy trong ngăn tủ quần áo có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NokiaX3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1010; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 ví giả da bên trong có 01 thẻ căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe, 01 thẻ Ngân hàng Bưu điện iên Việt đều mang tên anh Trần Văn L. T tiếp tục cùng Th d ng xà cày cậy phá chiếc két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp để ở tầng hầm, cạnh tủ quần áo và lấy số tiền 10 triệu đồng để trong két. T cầm toàn bộ số tài sản trên rồi c ng Th đi từ dưới tầng hầm lên thì thấy tại v trí cạnh cầu thang có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu IRB DE, sơn màu đỏ-đen BKS 90B1-66..., chìa khóa vẫn cắm trong ổ khóa điện, Th mở khóa điện rồi dắt xe đi ra ngoài. Sau đó, Th điều khiển xe BKS 90B1-66... vừa trộm cắp được chở T ngồi giữa ôm cây máy vi tính, B ngồi phía sau rồi đi về hướng thành phố Phủ Lý để tìm nơi tiêu thụ tài sản. Trên đường đi, T đưa chiếc điện thoại di động NokiaX3 cho B cầm và đưa cho Th số tiền 500.000 đồng để đổ xăng. Khi cả 3 đi đến khu vực bờ kè sông Đáy, phía sau Khách sạn 2.9 thuộc phường ai Bà Trưng, thành phố Phủ ý, tỉnh à Nam thì b lực lượng tuần tra của Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh à Nam phát hiện thấy có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì Th để lại xe mô tô và bỏ chạy vào một ngách nhỏ ra phía đường Quốc lộ 1 tẩu thoát; T, B không xuất trình được giấy tờ t y thân và giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe mô tô đang điều khiển nên lực lượng tuần tra đã yêu cầu T, B đưa xe mô tô về trụ sở để làm rõ.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Nguyễn Văn B 01 chiếc điện thoại di động NokiaX3; thu giữ của Nguyễn nh T 01 xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, BKS 90B1-66..., 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1010, 01 chiếc điện thoại di động OPPO, 01 chiếc điện thoại di động Masstel, 01 cây máy vi tính, số tiền 9.500.000 đồng và 01 ví giả da bên trong có 01 thẻ căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe, 01 thẻ Ngân hàng Bưu điện iên Việt đều mang tên anh Trần Văn L.

- Quá trình khám nghiệm đã thu giữ 01 đoạn kim loại hình chữ dạng vam phá khóa , 01 khóa nhãn hiệu VIET TIEP, 01 tuýp kim loại dài 52cm, 01 lưỡi cưa kim loại kích thước 31x2 cm, 01 kìm cộng lực, 01 đoạn kim loại dạng thép soắn dài 35cm, 01 két sắt nhãn hiệu VIETTIEP và 01 đoạn kim loại dài 29cm.

Ngoài ra, quá trình điều tra còn thu giữ:

- 01 Đăng ký xe mô tô BKS 90B1 - 66... mang tên Phạm Văn B, 01 tờ giấy 4 có nội dung anh Phạm Văn B bán xe cho anh Trần Văn L do ch Nguyễn Th Thu Tiền là vợ của anh L) giao .

Tại Bản kết luận đ nh giá tài sản số 12/2019/K -ĐGTS ngày 16/12/2019 của ội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh à Nam, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, BKS 90B1 - 66... có giá tr 20.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1010 có giá tr 150.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động OPPO có giá tr 200.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động NokiaX3 có giá tr 50.000 đồng; 01 ví giả da có giá tr 120.000 đồng; 01 cây máy vi tính có giá tr 6.000.000 đồng; 01 khóa VIỆT TIỆP có giá tr 20.000 đồng; 01 két sắt nhãn hiệu VIỆT TIỆP có giá tr 1.650.000 đồng.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 13/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh à Nam đã truy tố Nguyễn nh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật ình sự.

Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm giữ nguyên quan điểm truy tố đối với b cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã nêu không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của b cáo. Đề ngh ội đồng xét xử: Tuyên bố b cáo Nguyễn nh T tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật ình sự - Xử phạt Nguyễn nh T từ 18 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho b cáo. Buộc b cáo phải nộp án phí hình sự theo quy đ nh, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng: T ch thu tiêu hủy 01 đoạn kim loại hình chữ dạng vam phá khóa , 01 khóa nhãn hiệu VIET TIEP, 01 tuýp kim loại dài 52cm, 01 lưỡi cưa kim loại kích thước 31x2 cm, 01 kìm cộng lực, 01 đoạn kim loại dạng thép soắn dài 35cm và 01 đoạn kim loại dài 29cm; T ch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

B cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - cháu Nguyễn Văn B có ý kiến: Giữa B và b cáo có quen biết nhau, còn người tên là Th thì mới gặp lần đầu nên không biết họ tên, đ a chỉ của Th ở đâu. Tối ngày 09/12/2019 Th rủ T và B đi trộm cắp tài sản thì B đồng ý và đưa điện thoại của mình cho T gọi taxi để đi trộm cắp tài sản. Nay B đề ngh ội đồng xét xử trả lại cho B chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo, b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, b cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. ời khai của các b cáo được thẩm tra tại phiên tòa ph hợp với chính lời khai của b cáo tại cơ quan điều tra, ph hợp lời khai của b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. ội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Với mục đích chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu nên khoảng 21 giờ ngày 09/12/2019, Nguyễn nh T và Nguyễn Văn B c ng một đối tượng tên Th hiện chưa xác đ nh được lai l ch đã lén lút đột nhập vào nhà anh Trần Văn L ở thôn LN, xã TH, huyện TL trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, BKS 90B1 - 66... có giá tr 20.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1010 có giá tr 150.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động OPPO có giá tr 200.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động NokiaX3 có giá tr 50.000 đồng; 01 ví giả da có giá tr 120.000 đồng; 01 cây máy vi tính có giá tr 6.000.000 đồng; 01 khóa VIỆT TIỆP có giá tr 20.000 đồng; 01 két sắt nhãn hiệu VIỆT TIỆP có giá tr 1.650.000 đồng và số tiền 10.000.000 đồng trong két sắt. Tổng tr giá tài sản là 36.520.000 đồng. Khi T, B và Th đi đến khu vực phường ai Bà Trưng, thành phố Phủ ý, tỉnh à Nam để tìm nơi tiêu thụ thì b lực lượng tuần tra của Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh à Nam kiểm tra, phát hiện, lợi dụng sơ hở trong quá trình kiểm tra, Th đã bỏ chạy thoát.

ành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật ình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

ành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà quyền này được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại đ a phương. Do đó ội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của b cáo.

Xét về thân nhân b cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về thân nhân: B cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên ội đồng xét xử cũng xem xét đến yếu tố này khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: B cáo không phải ch u tình tiết nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: B cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật ình sự. B hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo nên b cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật ình sự.

Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo; ội đồng xét xử xét thấy cần cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo b cáo trở thành công dân lương thiện và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy b cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn đ nh, nên miễn phạt tiền đối với b cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, ch Tiền không có yêu cầu b cáo phải bồi thường tiếp số tiền 500.000 đồng trong két sắt, 20.000 đồng là tr giá chiếc khóa VIỆT TIỆP và 1.650.000 đồng là tr giá chiếc két sắt nhãn hiệu VIỆT TIỆP. Ch T3 và anh L đã nhận lại các tài sản b mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì nên ội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh à Nam đã ra Quyết đ nh xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ch Nguyễn Th Thu Tiền 01 xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, BKS 90B1 - 66...; 01 cây máy vi tính; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1010; 01 chiếc điện thoại di động OPPO; 01 chiếc điện thoại di động NokiaX3; 01 két sắt nhãn hiệu VIETTIEP; 01 chiếc ví giả da, 01 căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe; 01 thẻ Ngân hàng; 01 Đăng ký xe mô tô và số tiền 9.500.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với 01 đoạn kim loại hình chữ dạng vam phá khóa), 01 khóa nhãn hiệu VIET TIEP, 01 tuýp kim loại dài 52cm, 01 lưỡi cưa kim loại kích thước 31x2 cm, 01 kìm cộng lực, 01 đoạn kim loại dạng thép soắn dài 35cm, 01 đoạn kim loại dài 29cm là vật chứng của vụ án, không có giá tr sử dụng nên cần t ch thu tiêu hủy.

Đối 01 chiếc điện thoại di động Masstel là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn B, B đưa cho T để T gọi taxi trở đi trộm cắp tài sản xác đ nh liên quan đến tội phạm nên cần t ch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi hủy hoại chiếc khóa cửa và chiếc két sắt có tổng tr giá là 1.670.000 đồng, thiệt hại dưới 2 triệu đồng. Mặt khác, Nguyễn nh T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với T về tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy đ nh tại Điều 178 Bộ luật ình sự.

Đối với đối tượng tên Th là người c ng Nguyễn nh T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong ngày 09/12/2019. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh à Nam đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác đ nh được đ a chỉ của Th. Do vậy, ội đồng xét xử yêu cầu yêu cầu Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh à Nam tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo đúng quy đ nh pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn B là người c ng Nguyễn nh T và đối tượng tên Th thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, tại thời điểm vụ án xảy ra, B mới có 15 tuổi 02 tháng 09 ngày, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Căn cứ Điều 12 Bộ luật ình sự thì B không phải ch u trách nhiệm hình sự nên Phòng CS S - Công an tỉnh à Nam đã ra Quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Nguyễn Văn B là ph hợp pháp luật.

Về án phí: B cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật ình sự; các Điều 106; 136; 329, 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: B cáo Nguyễn nh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt b cáo Nguyễn nh T 21 ai mươi mốt tháng t , thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 09/12/2019.

3. Xử lý vật chứng:

- T ch thu tiêu hủy: 01 đoạn kim loại hình chữ dạng vam phá khóa , 01 khóa nhãn hiệu VIET TIEP, 01 tuýp kim loại dài 52cm, 01 lưỡi cưa kim loại kích thước 31x2 cm, 01 kìm cộng lực, 01 đoạn kim loại dạng thép soắn dài 35cm, 01 đoạn kim loại dài 29cm.

- T ch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Masstel.

(Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/01/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh à Nam với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh iêm).

4. Án phí: Buộc b cáo Nguyễn nh T phải nộp 200.000đ ai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: B cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng b hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6,7 và 9 uật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 uật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ