- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Mỹ H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày: 18 - 6 – 2020. |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Bá Hóa.
2. Bà Phạm Thị Ngọc Hữu.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Mỹ H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1967 tại tỉnh Bình Thuận; địa chỉ: Thôn 4, xã M, huyện Tánh Linh , tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xí, sinh năm 1931 (đã chết) và bà Lê Thị B (đã chết); chồng: Hoàng Văn Q, sinh năm 1968; con có 01 người tên là Hoàng Lê Thanh Bình, sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân: Ngày 25/3/2001 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án (25/3/2011) tại bản án số 37/2011/HSST.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú: Có mặt.
Người bị hại:
- Ông Ích K, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố Lạc Hóa 2, thị trấn Lạc Tánh, Tánh Linh, Bình Thuận: Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13h30, ngày 17/3/2020 tại cây xăng ở thôn 3, xã M, huyện Tánh Linh Lê Thị Mỹ H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 diện thoại di động hiệu Samsung galaxy J7 Prime màu đem của anh Ông Ích K trị giá 2.599.800đ.
Tại bản cáo trạng số: 11/CT – VKSND – TL, ngày 19/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ H về tội: “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi ,bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo Lê Thị Mỹ H là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị xem xét áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ H: 06 đến 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Cho nên, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi vi phạm của bị cáo Lê Thị Mỹ H:
Vào khoảng 13h30, ngày 17/3/2020 Lê Thị Mỹ H điều khiển xe mô tô đến cây xăng tại thôn 3, xã M, huyện Tánh Linh đổ xăng. Lúc này, Lê Thị Mỹ H phát hiện trên bàn ghế đá tại cây xăng có một điện thoại di động thì nảy sinh ý định trộm cắp để sử dụng vào mục đích cá nhân. Lợi dụng nhân viên đang đổ xăng , mất cảnh giác nên Lê Thị Mỹ H lén lút đi đến bộ bàn ghế đá tại cây xăng chiếm đoạt một điện thoại di động của anh Ông Ích K. Sau đó, Lê Thị Mỹ H đem điện thoại di động này cất giấu tại nhà. Sau khi sự việc bị phát hiện, Công an xã M đã tiến hành lập biên bản giữ đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (Bút lục 34 – 35) là 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7, màu đen. Tại phiên tòa, Lê Thị Mỹ H xác định điện thoại Công an xã M thu giữ là do bị cáo chiếm đoạt của anh K.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL - HĐĐG, ngày 25/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tánh Linh kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen của anh Ông Ích K trị giá 2.599.800đ..
Xét thấy: Bị cáo Lê Thị Mỹ H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Thế nhưng, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 1 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu đen của anh Ông Ích K trị giá 2.599.800đ. Cho nên, bị cáo Lê Thị Mỹ H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Mỹ H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc bị phát hiện thì đến tối ngày 17/3/2020 bị cáo đã giao nộp lại điện thoại di động đã chiếm đoạt của anh K cho Công an xã M. Điện thoại di động này không bị hư hỏng gì nên anh K không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Cho nên, cần xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại”. Do đó, bị cáo được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp.
Xét thấy: Bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo; giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sống có ích cho xã hội là phù hợp với quy định tại Điều 36 BLHS.
Bị cáo Lê Thị Mỹ H làm nghề nông nhưng không có thu nhập ổn định, do đó cần miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Ông Ích K không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[5] Về án phí: Cần buộc bị cáo Lê Thị Mỹ H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt Lê Thị Mỹ H: 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo Lê Thị Mỹ H nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Thị Mỹ H.
Giao bị cáo Lê Thị Mỹ H cho UBND xã M, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận để giám sát, giáo dục.
Về án phí:
Căn cứ vào: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Thị Mỹ H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/6/2020). Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: + Cấp theo Điều 262 BLTTHS: - Bị cáo; Người bị hại. - VKSND huyện; - CQCSĐT C.A huyện; - Cơ quan THAHS - Công an huyện; - Nhà tạm giữ - CA huyện; - UBND xã M (Thay T/B) ; - Sở TP T. Bình Thuận; - C.C T.H.A DS (khi án có HLPL); - Lưu án văn, HSVA; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến |