- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn U - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn U, Huỳnh Tuấn E phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày: 18 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Kim Luyến
Ông Vũ Xuân Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ẩn - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo:
Bị cáo Nguyễn V, sinh năm 1960; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Phạm Thị Y (chết); vợ Nguyễn Thị Đ; con 08 người (lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1993); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2020 cho đến khi xét xử (có mặt).
Bị cáo Nguyễn Văn V, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V (là bị cáo trong cùng vụ án) và bà Nguyễn Thị Đ; vợ Nguyễn Thị Bé B; con 02 người (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2020 cho đến khi xét xử (có mặt).
Bị cáo Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V (là bị cáo trong cùng vụ án) và bà Nguyễn Thị Đ; vợ Quang Ngọc Đ (con gái ruột bị cáo Quang Minh Đ); con 03 người (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2020 cho đến khi xét xử (có mặt).
Bị cáo Huỳnh Tuấn E, sinh năm 1981; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh D và bà Trần Thị K; vợ Nguyễn Thị H (con gái ruột bị cáo Nguyễn V); con 01 người (sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2020 cho đến khi xét xử (có mặt).
Bị cáo Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh L và bà Nguyễn Thanh H; vợ Nguyễn Kiều L (con gái ruột bị cáo Nguyễn V); con 01 người (sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2020 cho đến khi xét xử (có mặt).
Bị cáo Quang Minh Đ, sinh năm 1972; nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quang Thanh H và bà Lê Kim L; vợ Lê Thị Đ; con 03 người (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2020 cho đến khi xét xử (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tuấn E: Ông Mai Thiên Thơ, Luật sư văn phòng Luật sư Huỳnh Quốc, thuộc đoàn luật sư tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị hại:
+ Ông Hồng Minh T, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp H, xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
+ Ông Dương Phước H, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp G, xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
+ Ông Lâm Ngọc Đ, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp V, xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ T.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Việt B. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp B, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. (có đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 10/3/2020, Nguyễn V điều khiển võ (xuồng) cắt lái, màu xanh, dài 9,7m và máy Huyndai 16HP, màu xanh chở theo Nguyễn Văn U và Nguyễn Hoàng N , đi từ nhà ở ấp B, xã Tam Giang Tây , huyê ̣n Ngo ̣c Hiển , tỉnh Cà Mau đến khu vực rừng phòng hộ thuộc Tiểu khu 141, ở ấp Bỏ Hủ , xã Tam Giang Đông, huyê ̣n Năm Căn để chă ̣t và lượm cây đướ c că ̣p bai biển , cách̃ cử a biển Bồ Đề khoảng 100m. Sau khi chă ̣t được khoảng 0,7m3 (bảy tấc ) gỗ đướ c thi cả ba điều khiển phương tiê ̣n chở gỗ đướ c về nhà . Khi đến khu vực cử a
̀ biển Bồ Đề thi bi ̣ Đô ̣i Tuần tra quản lý bảo vê ̣ rừ ng thuô ̣c Ban quản lý rừ ng
̀ phòng hộ (BQLRPH), do anh Lâm Ngo ̣c Đ (đô ̣i trưở ng đô ̣i tuần tra), Chung Duy Đ (nhân viên) và Hồng Minh T (nhân viên) điều khiển võ composite hiê ̣u Miền Tây, máy xe 4T98, kết hợp vớ i BQLRPH huyê ̣n Đầm Dơi do anh Trần Công D (Tiểu khu phó Tiể u khu 224), anh Phan Quốc M (Nhân viên Tiểu khu 224 thuô ̣c BQLRPH huyê ̣n Đầm Dơi ), anh Dương Phướ c H và Lê Đăng H (Nhân viên BQLRPH Tam Giang I) điều khiển võ composite hiê ̣u Phúc Vinh , máy xe 4T88, phát hiện, bắt quả tang phương tiê ̣n vâ ̣n chuyển lâm sản trái phép nên yêu cầu U, V và N đưa phương tiê ̣n cùng tang vâ ̣t về Tiểu khu 139, ở ấp Mai Vinh, xã Tam Giang Đông để lâ ̣p biên bản xử lý . Khi đến Tiểu khu thi U năn ni anh Đ xin bỏ
̉
̀ qua vi pha ̣m , đem phương tiê ̣n vỏ máy về nhà nhưng anh Đ không đồng ý , U điê ̣n thoa ̣i cho Nguyễn Thanh T (con ruô ̣t U) nói cho T biết viê ̣c chở gỗ đướ c bi ̣ bắt ở Tiểu khu 139 và kêu T qua rướ c về.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi lâ ̣p biên bản thi U không đồng ý ký tên
̀ vào biên bản, U kêu V ném cây đước trên võ bỏ xuống sông để lấy vỏ máy về. U và V chử i đô ̣i tuần tra, ném cây đước xuống sông trước bến Tiểu khu 139 thì bị anh H và T ngăn cản. U ném được 01 đến 02 cây thi bi ̣ nga xuỗ
́ng sông , U leo
̀ lên bờ và tiếp tu ̣c lấy cây ném nhưng bi ̣ anh H , T ngăn cản, còn V khiêng máy Huyndai 16HP của U ném xuống sông để không bị tạm giữ . Lúc này, Nguyễn Thanh T điều khiển phương tiê ̣n võ cắt lái dài 7,3m, máy Hinota 18HP, bình xăng màu đỏ chở theo Huỳnh Tuấn E (con rễ U), Nguyễn Thanh Đ (con rễ U) và Quang Minh Đ (thông gia của U) đến tiểu khu thì U kêu T, Tuấn E , Đ và Đ quăng cây trên võ của U xuống sông để lấy võ về . Tuấn E, Đ và Đ lên vỏ của U dùng lời lẽ thô tục , chử i đô ̣i tuần tra , Điền lấy 01 miếng gỗ (ván, dài khoảng 40cm) trên võ đe do ̣a đánh đô ̣i tuần tra nhưng bi ̣ anh Đ ngăn cả n nên quăng bỏ miếng ván xuống sông , Đ xô đẩy anh H , V lô ̣i xuống sông mò máy Huyndai 16HP đưa lên cho Đ để lên võ, U và V đẩy võ ra khỏi bai neo đâ ̣̃
u của tiểu khu . Tuấn E lấy 01 cây búa (dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loa ̣i ) ở mũi võ của U, cầm búa chă ̣t dây neo cô ̣t mũi , lái võ của U đẩy võ ra ngoài sông thì bị anh Đ , H, M, T và H ngăn cản nhưng Tuấn E dùng búa quơ qua quơ lại , chă ̣t nhiều nhát vào cây cô ̣t dây (bổ trâu) trướ c mũi võ hăm do ̣a nếu kéo võ la ̣i thì sẽ chém nên anh Đ , H, M và T buông võ U ra, anh H phóng lên võ nắm dây võ thì Tuấn E dùng búa chặt dây võ không cho anh H kéo dây võ. T điều khiển phương tiê ̣n, ném dây qua võ U cho Đ và V cô ̣t dây vào võ để kéo về nhà, anh H tiếp tu ̣c ngăn cản thi bi ̣ Tuấn E că ̣p cổ, đe do ̣a quăng H xuống sông.
̀
Lúc này, anh T điều khiển võ composite hiê ̣u Miền Tây, màu xanh trắng, dài 10,4m, máy xe 4T98 (của đội tuần tra) chở anh Đ và H truy đuổi, còn anh M và D lấy 01 phương tiê ̣n đuổi theo ngăn cản . T điều khiển quơ chân vi ̣t máy đang hoa ̣t đô ̣ng hướ ng vào phương tiê ̣n của đô ̣i tuần tra không cho áp sát vào võ, anh T điều khiển võ chă ̣n ngang mũi võ của U thì bị T điều khiển phương tiê ̣n đu ̣ng vào be võ làm trầy xướ c , còn Đ, Tuấn E và V quăng bỏ cây xuống sông không cho phương tiê ̣n của đô ̣i tuần tra tiếp câ ̣n. Khi T điều khiển phương tiê ̣n áp sát võ U thì Đ, Tuấn E khiêng 01 gốc đướ c ném vào võ anh T điều khiển, anh H phóng qua võ của T thì T điều khiển phương tiê ̣n về Tiểu khu 139. Tuấn E, V, Đ và Đ tiếp tu ̣c quăng bỏ hết cây trên võ của U xuống sông để phi tang vâ ̣t chứ ng, còn Nguyễn Hoàng N đi theo nhưng không tham gia và không có hành đô ̣ng chống đối la ̣i đô ̣i tuần tra. Sau khi kéo phương tiê ̣n võ, máy của U về ấp B, xã Tam Giang Tây, huyê ̣n Ngo ̣c Hiển thi T, Tuấn E và Đ đem võ máy của U cất
̀
giấu ở kinh Xẻo Ngang . Đội tuần tra BQLRPH Tam Giang I điện báo Công an xã Tam Giang Đông và Công an huyện Năm Căn vụ việc. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn tiến hành mời các đối tượng về trụ sở làm viê ̣c. Tại đây, U, V, Đ, Tuấn E, T và Đ thừ a nhâ ̣n hành vi chống đối la ̣i Đô ̣i tuần tra BQLRPH Tam Giang I.
Tang vâ ̣t thu giƣ̃ gồm:
- 01 vỏ cắt lái, đóng bằng cây, có lắp keo bên ngoài màu xanh, dài 9,7m;
- 01 máy Huyndai 16HP, bình xăng màu xanh;
- 01 võ cắt lái, đóng bằng cây, có lắp keo trong chiều dài 7,3m;
- 01 máy Hinota 18HP, bình xăng màu đỏ;
- 01 USB chứ a 03 đoa ̣n video thể hiê ̣n viê ̣c Chống ngườ i thi hành công vu ̣ xảy ra ngày 10/3/2020 tại Tiểu khu 139 (01 đoa ̣n video có thờ i lượng 42 giây; 01 đoa ̣n video có thờ i lượng 01 phút 44 giây và 01 đoa ̣n video có thờ i lượ ng 06 phút 51 giây);
- 15 đoa ̣n dây gồm : Đoa ̣n 1: kích thước 1,78m x 1,5cm; Đoa ̣n 2: kích thướ c 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 3: kích thước 0,35m x 1,2cm; Đoa ̣n 4: kích thước 0,37m x 1,2cm; Đoa ̣n 5: kích thước 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 6: kích thước 1,56m x 1,5cm; Đoa ̣n 7: kích thước 3,36m x 1,2cm; Đoa ̣n 8: kích thước 1,8m x 1,5cm; Đoa ̣n 9: kích thước 1,5m x 1,5cm; Đoa ̣n 10: kích thước 7,05m x 1,5cm có vết cắt từ đầu dây vào 50cm; Đoa ̣n 11: kích thước 6,3m x 1,2cm, từ đầu dây vào 40cm có mô ̣t vết cắt, từ đầu dây vào 50cm có mô ̣t vết cắt ; Đoa ̣n 12: kích thước 6,67m x 1,5cm có mô ̣t đoa ̣n dây nối có đườ ng kinh 1,2cm, trên dây từ đầu dây
́ vào 30cm có mô ̣t vết cắt ; Đoa ̣n 13: kích thước 3,67m x 1,5cm; Đoa ̣n 14: kích thướ c 1,4m x 0,6cm; Đoa ̣n 15: kích thước 8,25m x 0,6cm; và 01 võ bánh xe có quấn dây, có một đầu dây lú ra ngoài kích thước 39cm x 0,6cm;
- 01 cây búa, cán bằng cây dài 40cm, lưỡi bằng kim loa ̣i dài 15cm;
- 01 cây cưa dài 70cm, lưỡi bằng kim loa ̣i, cán bằng cây;
- 01 cái mỏ neo bằng kim loại;
Kết quả kiểm tra các phương tiê ̣n liên quan, như sau:
1. Kiểm tra phương tiê ̣n của Ban quản lý rừ ng phòng hô ̣ Tam Giang I : 01 vỏ composite hiệu Miền Tây , màu xanh trắng, dài 10m40, rô ̣ng 1m50, mạng vỏ cao 0m64. Trên ma ̣n trái vỏ , cách mũi vỏ 3m79 phát hiện vết keo vỡ có kích thướ c (5,5 x 1,5) cm, cách vết vỡ keo 0m51 và cách mũi võ 4m30 trên ma ̣n trái phát hiện vết trầy xướt sơn kích thước (61 x 1)cm, nhìn từ lái lên mũi võ; trên vỏ có gốc đước kích thước 1m90 x 18,5cm.
2. Kiểm tra phương tiê ̣n võ cây cắt lái dài 7m3 (của Nguyễn Thanh Đ), do Nguyễn Thanh T điều khiển đu ̣ng vào vỏ của BQLRPH Tam Giang I , để lại dấu vết: dướ i lườ ng mũi vỏ cách mũi vỏ 1,1m, có vết sơn màu xanh kích thước 20cm x 5cm.
3. Kiểm tra phương tiê ̣n vỏ cây cắt lái dài 9,7m; ngang 1,8m; cao 76cm có lắp keo bên ngoài màu xanh của Nguyễn Văn U, phát hiện: Tại vị trí cột ở phần mũi võ (bổ trâu) có chiều cao 1,4m, ngang 10cm, rô ̣ng 06cm; từ phia đinh cô ̣t
́
̉ xuống 14cm có vết cắt kich thướ c 3cm x 01cm; từ đinh cô ̣̉
t xuống 35cm có vết
́ cắt 04cm x 1,5cm; từ đinh cô ̣̉
t xuống 42cm có vết cắt kich thướ c 06cm x 02cm;
́ Kiểm tra bử ng mũi võ , cách mũi võ 1,41m; có 03 vết cắt có kich thướ c lần lượt
́ là 05cm; 04cm x 3,5cm; 6,5cm.
Quá trình điều tra , các bị can Nguyễn Văn U; Nguyễn V; Nguyễn Thanh T; Huỳnh Tuấn E; Nguyễn Thanh Đ và Quang Minh Đ, thừ a nhâ ̣n hành vi chống đối lực lượng Đô ̣i tuần tra BQLRPH Tam Giang I để lấy phương tiê ̣n võ máy của U về, quăng bỏ cây đướ c xuống sông để phi tang chứ ng cứ , không cho Đô ̣i tuần tra thu giữ . Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Năm Căn , tiến hành cho nhâ ̣n da ̣ng, mô tả hành vi pha ̣m tô ̣i qua đoa ̣n video, các bị can xác nhận, như sau:
Nguyễn Văn U mă ̣c áo thun dài tay , màu xanh; quần thun dài, màu xanh; đô ̣i nón bo màu xanh riêu; mang giày bata. U trực tiếp giằng co vớ i cán bô ̣ lâm trườ ng, ném cây xuống sông khi xuồng còn đang đậu tại tiểu khu 139. U không ký tên vào biên bản và có dùng lời lẽ thô tục xúc phạm cán bộ lâm trường.
Nguyễn Văn V mă ̣c áo thun màu xám dài tay, có in số 10 ở phía sau lưng; quần thun dài, màu đen, đô ̣i nón bo màu đen . V ném cây xuống sông , ném máy xuống sông, cự cải vớ i cán bô ̣, vớ t máy lên võ trướ c khi T kéo võ của U ra ngoài sông.
Nguyễn Thanh T mă ̣c áo thun màu cam, quần cu ̣t màu xanh, điều khiển võ cây cắt lái, và máy Hinota 18HP binh xăng màu cam . T điều khiển phương tiê ̣n
̀
kéo võ của U về, quơ chân vi ̣t vào phương tiê ̣n của cán bô ̣ lâm t rườ ng và đu ̣ng mũi võ vào võ của lâm trường khi cán bộ lâm trường sử dụng phương tiện để ngăn cản.
Huỳnh Tuấn E mă ̣c quần so ̣t màu đen , áo màu xanh , tay ngắn đứ ng trên võ cầm búa. Tuấn E dùng búa chặt dây võ , chữi thề đối với lực lượng kiểm lâm và quăng cây đước từ trên võ xuống sông.
Nguyễn Thanh Đ không mă ̣c áo, mă ̣c quần so ̣t màu đen. Đ trực tiếp giằng co vớ i lực lượng lâm trườ ng , Đ có lời nói thách thức, đe do ̣a cán bô ̣ lâm trườ ng. Đ chụp miếng ván dưới xuồng định đánh lại lực lượng nhưng bị anh Đ (cán bộ lâm trườ ng) yêu cầu bỏ xuống nên Đ bỏ xuống sông, Đ trực tiếp ném cây trên võ của U xuống sông.
Quang Minh Đ mă ̣c áo sơ mi màu trắng, sọc; quần so ̣t màu xám , đô ̣i nón bo màu đen. Đ trực tiếp giằng co vớ i cán bô ̣ lâm trườ ng ném cây xuống sông.
Qua làm viê ̣c vớ i Đô ̣i Tuần tra quản lý bảo vê ̣ rừ ng thuô ̣c Ban quản lý
rừ ng phòng hô ̣ Tam Giang I ; BQLRPH huyện Đầm Dơi , thể hiê ̣n các cán bô ̣ thực hiê ̣n viê ̣c phân công công tác , chứ c năng và nhiê ̣m vu ̣ đúng theo quy đi ̣nh , cụ thể:
1/ Tại Kế hoạch tuần tra quản lý bảo vệ rừng quý I năm 2020 số 01/KH-ĐTT ngày 15/01/2020 của Đội Tuần tra QLBVR thuô ̣c BQLRPH Tam Giang I , thể hiê ̣n: Lâ ̣p kế hoa ̣ch tuần tra , truy quét từ tháng 1/2020 đến hết tháng 3/2020 trên toàn lâm phần : Công tác quản lý bảo vê ̣ rừ ng : Đội tuần tra quản lý bảo vệ rừ ng kết hợp vớ i tiểu khu thườ ng xuyên kiểm tra … quản lý bảo vê ̣ rừ ng trên toàn lâm phần , ngăn chă ̣n, phát hiện kịp thời tình trạng chặt phá và vận chuyển lâm sản trái phép.
2/ Lê ̣nh điều đô ̣ng Điều đô ̣ng công tác tuần tra quản lý bảo vê ̣ rừ ng số
01/LĐĐ-BQL ngày 09/3/2020 của Ban QLRPH Tam Giang I – Sở NN & PTNT tỉnh Cà Mau , điều đô ̣ng công tác quản lý bảo vê ̣ rừ ng từ ngày 09/3/2020 đến ngày 11/3/2020 gồm:
Ông Lâm Ngo ̣c Đ – Đội trưởng Đội TT -QLBVR, nhóm trưởng ; ông Dương Phướ c H; ông Lê Đăng H; ông Hồng Minh T; ông Chung Duy Đ – Nhân viên Tiểu khu 134, thành viên; nhóm công tác tuần tra quản lý bảo vệ rừng phối hợp vớ i chinh quyền đi ̣a phương thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ tuần tra , truy quét trên toàn
́ lâm phần quản lý kịp thời ngăn chặn và xử lý các vụ việc khai thác , vâ ̣n chuyển lâm sản trái pháp luâ ̣t xảy ra trên toàn lâm phần quản lý theo quy đi ̣nh.
3/ Lê ̣nh Điều đô ̣ng công tác ngày 10/3/2020 của ban QLRPH Đầm Dơi , phân công 02 viên chứ c: ông Trần Công D – Tiểu khu phó Tiểu khu 224; ông Phan Quốc M – Nhân viên quản lý và bảo vê ̣ rừ ng tiểu khu 224; cùng với viên chứ c các Tiểu khu của Ban quản lý rừ ng phòng hô ̣ Tam Giang I phối hợp tuần tra, kiểm tra quản lý và bảo vê ̣ rừ ng.
4/ Tại biên bản kiểm tra số 01/BB-BQL về hành vi vâ ̣n chuyển lâm sản trái phép lúc 13 giờ ngày 10/3/2020 tại Tiểu khu 139 thuô ̣c BQLRPH Tam Giang I, thể hiê ̣n: Nguyễn Văn U vi pha ̣m vâ ̣n chuyển lâm sản trái pháp luật với số lượng lâm sản: gỗ Đướ c là 0,7m3 (bảy tấc).
5/ Tại Báo cáo về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật và chống
ngườ i thi hành công vu ̣ số 17/BC-BQL ngày 30/3/2020 của Ban QLRPH Tam Giang I, thể hiện:
Đội tuần tra quản lý bảo vê ̣ rừ ng phối hợp vớ i các Tiểu khu 136; 134; 139 và Tiểu khu 224 Ban quản lý rừ ng phòng hô ̣ Đầm Dơi kiểm tra khu vực từ cử a Hố Gùi đến cử a Bồ Đề , trong quá trinh tuần tra , truy quét thi phát hiê ̣n có 01
̀
̀ phương tiê ̣n đang vâ ̣n chuyển lâm sản , qua kiểm tra thi số lâm sản trên phương
̀ tiê ̣n không có hồ sơ , nguồn gốc lâm sản hợp pháp , nên đều phương tiê ̣n về tiểu khu 139 để làm việc . Qua làm việc tại Tiểu khu 139, chủ phương tiện N guyễn Văn U, số lượng lâm sản qua kiểm tra là 0,7m3 (bảy tấc) gỗ đướ c… Căn cứ theo Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/04/2019 quy đi ̣nh xử pha ̣t vi pha ̣m hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp ; ông Nguyễn Văn U đã vi pha ̣m vào Chương II, Mục 3 Điều 22 khoản 1 điểm c. Trong quá trinh làm viê ̣c ông Ú t không hợp
̀ tác làm việc và không đồng ý ký vào biên bản còn dùng nhiều lời lẻ thách thức , chử i anh em làm nhiê ̣m vu ̣.
Không thu giữ được cây búa mà Huỳnh Tuấ
n E dùng để chặt dây võ , chống đối la ̣i lực lượng làm nhiê ̣m vu ̣ . Không thu giữ được miếng gỗ (ván) Nguyễn Thanh Đ dùng để chống lực lượng làm nhiệm vụ , do Đ đa quăng bõ
̉ miếng ván xuống sông.
Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSNC ngày 20 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn U về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh T, Huỳnh Tuấn E, Nguyễn Thanh Đ và Quang Minh Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngày 30 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát huyện Năm Căn rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn U, thay đổi một phần quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội Chống người thi hành công vụ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 330 Bộ luật hình sự sang khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo khác.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Về tội danh và hình phạt:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn U và Huỳnh Tuấn E, đề nghị xử phạt:
+ Nguyễn Văn U và Huỳnh Tuấn E mức hình phạt từ 06 -09 tháng tù.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh Đ, Quang Minh Đ; mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I và những người bị hại không đặt ra yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.
- Đề nghị tiêu hủy tang vật liên quan vụ án không còn giá trị sử dụng, gồm: 15 đoa ̣n dây gồm: Đoa ̣n 1: kích thước 1,78m x 1,5cm; Đoa ̣n 2: kích thước 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 3: kích thước 0,35m x 1,2cm; Đoa ̣n 4: kích thước 0,37m x 1,2cm; Đoa ̣n 5: kích thước 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 6: kích thước 1,56m x 1,5cm; Đoa ̣n 7: kích thước 3,36m x 1,2cm; Đoa ̣n 8: kích thước 1,8m x 1,5cm; Đoa ̣n 9: kích thước 1,5m x 1,5cm; Đoa ̣n 10: kích thước 7,05m x 1,5cm có vết cắt từ đầu dây vào 50cm; Đoa ̣n 11: kích thước 6,3m x 1,2cm, từ đầu dây vào 40cm có mô ̣t vết cắt, từ đầu dây vào 50cm có mô ̣t vết cắt; Đoa ̣n 12: kích thước 6,67m x 1,5cm có một đoạn dây nối có đường kính 1,2cm, trên dây từ đầu dây vào 30cm có mô ̣t vết cắt; Đoa ̣n 13: kích thước 3,67m x 1,5cm; Đoa ̣n 14: kích thước 1,4m x 0,6cm; Đoa ̣n 15: kích thước 8,25m x 0,6cm; và 01 võ bánh xe có quấn dây , có một đầu dây lú ra ngoài kich thướ c 39cm x 0,6cm; 01 cây búa, cán bằng cây dài 40cm,
́ lưỡi bằng kim loa ̣i dài 15cm; 01 cây cưa dài 70cm, lưỡi bằng kim loa ̣i, cán bằng cây; 01 cái mỏ neo bằng kim loại;
+ Tang vật là 01 vỏ cắt lái , đóng bằng cây , có lắp keo b ên ngoài màu xanh, dài 9,7m; 01 máy Huyndai 16HP, bình xăng màu xanh của Nguyễn Văn U và 01 võ cắt lái, đóng bằng cây, có lắp keo trong chiều dài 7,3m; 01 máy Hinota 18HP, bình xăng màu đỏ của Nguyễn Thanh Đ đã trả lại nên không đặt ra xem xét.
+ Tang vật là 01 USB chứ a 03 đoa ̣n video thể hiê ̣n viê ̣c Chống ngườ i thi hành công vụ xảy ra ngày 10/3/2020 tại Tiểu khu 139 (01 đoa ̣n video có thờ i lượng 42 giây; 01 đoa ̣n video có thờ i lượng 01 phút 44 giây và 01 đoa ̣n video có thờ i lượng 06 phút 51 giây) là vật chứng nên lưu hồ sơ vụ án.
- Bị cáo Nguyễn Văn U thống nhất với bản luận tội về tội danh, về hình phạt xin giảm nhẹ do bị cáo có bệnh.
- Luật sư bào chữa cho bị Huỳnh Tuấn E trình bày: Thống nhất về tội danh, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức án cải tạo không giam giữ; trường hợp không được thì xin được mức án nhẹ nhất.
- Bị cáo Huỳnh Tuấn E thống nhất với bản luận tội về tội danh, về hình phạt xin giảm nhẹ cho bị cáo.
- Bị cáo Nguyễn Văn V thống nhất với bản luận tội về tội danh, về hình phạt xin giảm nhẹ.
- Bị cáo Nguyễn Thanh T thống nhất với bản luận tội về tội danh và hình phạt.
- Bị cáo Nguyễn Thanh Đ thống nhất với bản luận tội về tội danh và hình phạt.
- Bị cáo Quang Minh Đ thống nhất với bản luận tội về tội danh và hình phạt.
- Bị hại Đ và T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo U, ngoài ra không ý kiến gì khác.
- Ông Trương Việt B - Phó Trưởng ban QLRPH Tam Giang I , là người đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I và bị hại Dương Phước H vắng mặt tại phiên tòa nên không trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn U, Nguyễn Văn V, Huỳnh Tuấn E, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh Đ, Quang Minh Đ thừa nhận: Khoảng 11 giờ ngày 10/3/2020, Nguyễn Văn U, Nguyễn Văn V và Nguyễn Hoàng N chă ̣t gỗ đướ c và vâ ̣n chuyển thi bi ̣ lực lượng tuần tra phát hiê ̣n , bắt giữ đưa về Tiểu
̀ khu lâ ̣p biên bản . Tại đây, U điê ̣n thoa ̣i kêu con ruô ̣t Nguyễn Thanh T cho hay sự việc thì T điều khiển võ máy chở Huỳnh Tuấn E , Nguyễn Thanh Đ và Quang Minh Đ đến tiểu khu cùng với Nguyễn Văn U, Nguyễn Văn V có những hành vi như: dùng lời lẽ thô tu ̣c xúc pha ̣m, đe do ̣a, xô đẩy cán bô ̣ tuần tra, dùng búa chặt dây neo, đẩy võ máy ra sông không cho lực lượng chức năng thu giữ, điều khiển chân vi ̣t đang hoa ̣t đô ̣ng hướ ng về phía cán bộ, điều khiển phương tiê ̣n đu ̣ng vào võ của cán bộ tuần tra , quăng cây đướ c trên võ xuống sông , kéo võ máy của U về nhà cất giấu làm cho lực lượng tuần tra không thực hiê ̣n được nhiê ̣m vu ̣ thu giữ phương tiê ̣n, tang vâ ̣t vi pha ̣m.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là có cơ sở chấp nhận, bởi lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với biên bản ghi lời khai, vật chứng thu giữ được và nhiều tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để ngăn Tổ tuần tra thực hiện nhiệm vụ được giao nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Năm Căn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn U, Nguyễn Văn V, Huỳnh Tuấn E, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn Đ, Quang Minh Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Hoàng N không có hành vi nào tham gia chống đối Tổ tuần tra Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I nên không đề cập xử lý là có căn cứ.
Tuy các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi nhưng xét thấy tính chất và mức độ cũng như tình hình thực tế diễn ra cho thấy giữa các bị cáo chỉ thực hiện hành vi một cách bộc phát, không có bàn bạc, phân công nên chỉ mang tính chất là đồng phạm giản đơn.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ mà còn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, làm giảm hiệu quả, hiệu lực của các hoạt động quản lý hành chính của nhà nước trên địa bàn huyện Năm Căn, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết: Tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Thanh Đ và Huỳnh Tuấn E có thân nhân là người có công cách mạng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn U và Huỳnh Tuấn E có hành vi chống đối lại Tổ tuần tra Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I rõ ràng tích cực hơn các bị cáo khác, cụ thể: Bị cáo U ngay từ đầu đã không đồng ý ký biên bản vi phạm, ném cây đước xuống sông, hành vi của bị cáo U làm khởi nguồn cho các hành vi chống đối của các bị cáo khác; bị cáo Tuấn E cầm búa quơ, chặt vào cây cột dây hăm dọa, cặp cổ và đe dọa quăng anh H xuống sông, quăng cây xuống sông không cho phương tiện của đội tuần tra tiếp cận, khiêng 01 gốc đước ném vào võ anh T điều khiển, từ đó cho thấy bị cáo Tuấn E có thái độ coi thường pháp luật, hung hăng chống đối lực lượng chức năng.
Vì vậy, cần phải cách ly các bị cáo Nguyễn Văn U và Huỳnh Tuấn E ra khỏi đời sống bình thường của xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích, để giáo dục, răn đe cũng như cảnh tỉnh đối với những ai chưa có ý thức chấp hành quy định, pháp luật của nhà nước.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh Đ, Quang Minh Đ chỉ có hành vi như: Bị cáo T điều khiển phương tiện, ném dây võ bị cáo U để cho bị cáo Đ và V cột dây vào võ để kéo vào nhà, khi bị truy đuổi thì bị cáo T điều khiển quơ chân vịt máy đang hoạt động hướng vào phương tiện của Tổ tuần tra không cho áp sát vào võ, điều khiển võ đụng vào be võ của Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I làm trầy xước; bị cáo V, Đ, Đ ném cây đước xuống sông để phi tang; bị cáo V cùng T và Đ đem võ máy của bị cáo U cất giấu. Hành vi của các bị cáo V, T, Đ, Đ không diễn ra tích cực, hậu quả gây ra không lớn nên xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo V, T, Đ và Đ vẫn đảm bảo tính răn đe.
Do bị cáo V, T, Đ, Đ hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tuấn E có căn cứ nên được chấp nhận một phần.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa có đủ căn cứ nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trương Việt B - Phó Trưởng ban QLRPH Tam Giang I, là người đại diện theo ủy quyền của Ban quản lý rừng phòng hộ Tam Giang I và các bị hại Lâm Ngọc Đ, Dương Phước H và Hồng Duy T không yêu cầu các bị cáo bồi thườ ng về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng:
- Đối với 15 đoa ̣n dây gồm: Đoa ̣n 1: kích thước 1,78m x 1,5cm; Đoa ̣n 2: kích thước 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 3: kích thước 0,35m x 1,2cm; Đoa ̣n 4: kích thướ c 0,37m x 1,2cm; Đoa ̣n 5: kích thước 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 6: kích thước 1,56m x 1,5cm; Đoa ̣n 7: kích thước 3,36m x 1,2cm; Đoa ̣n 8: kích thước 1,8m x 1,5cm; Đoa ̣n 9: kích thước 1,5m x 1,5cm; Đoa ̣n 10: kích thước 7,05m x 1,5cm có vết cắt từ đầu dây vào 50cm; Đoa ̣n 11: kích thước 6,3m x 1,2cm, từ đầu dây vào 40cm có mô ̣t vết cắt , từ đầu dây vào 50cm có mô ̣t vết cắt ; Đoa ̣n 12: kích thướ c 6,67m x 1,5cm có mô ̣t đoa ̣n dây nối có đườ ng kinh 1,2cm, trên dây từ đầu
́ dây vào 30cm có mô ̣t vết cắt ; Đoa ̣n 13: kích thước 3,67m x 1,5cm; Đoa ̣n 14: kích thước 1,4m x 0,6cm; Đoạn 15: kích thước 8,25m x 0,6cm; 01 võ bánh xe có quấn dây, có một đầu dây lú ra ngoài kích thước 39cm x 0,6cm; 01 cây búa cán bằng cây dài khoảng 40cm, lưỡi bằng kim loại; 01 cây cưa dài 70cm, lưỡi bằng kim loa ̣i, cán bằng cây; 01 cái mỏ neo bằng kim loại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
- Tang vật là 01 vỏ cắt lái, đóng bằng cây, có lắp keo bên ngoài màu xanh, dài 9,7m; 01 máy Huyndai 16HP, bình xăng màu xanh của Nguyễn Văn U và 01 võ cắt lái, đóng bằng cây, có lắp keo trong chiều dài 7,3m; 01 máy Hinota 18HP, bình xăng màu đỏ của Nguyễn Thanh Đ đã trả lại nên không đặt ra xem xét.
- Tang vật là 01 USB chứ a 03 đoa ̣n video thể hiê ̣n viê ̣c Chống ngườ i thi hành công vụ xả y ra ngày 10/3/2020 tại Tiểu khu 139 (01 đoa ̣n video có thờ i lượng 42 giây; 01 đoa ̣n video có thờ i lượng 01 phút 44 giây và 01 đoa ̣n video có thờ i lượng 06 phút 51 giây) là vật chứng nên lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự;
+ Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn U, Huỳnh Tuấn E phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
+ Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn U và Huỳnh Tuấn E mỗi bị cáo mức hình phạt là 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày các bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36 Bộ luật hình sự;
+ Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thanh T và Quang Minh Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
+ Xử phạt các bị cáo: Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thanh T và Quang Minh Đ mỗi bị cáo mức hình phạt là 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Thời gian chấp hành tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Quang Minh Đ cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Thời gian chấp hành tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã V, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh Đ, Quang Minh Đ.
2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, nguyên đơn dân sự không yêu cầu nên không xem xét.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng: Gồm 15 đoa ̣n dây gồm: Đoa ̣n 1: kích thướ c 1,78m x 1,5cm; Đoa ̣n 2: kích thước 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 3: kích thước 0,35m x 1,2cm; Đoa ̣n 4: kích thước 0,37m x 1,2cm; Đoa ̣n 5: kích thước 0,4m x 1,2cm; Đoa ̣n 6: kích thước 1,56m x 1,5cm; Đoa ̣n 7: kích thướ c 3,36m x 1,2cm; Đoa ̣n 8: kích thước 1,8m x 1,5cm; Đoa ̣n 9: kích thước 1,5m x 1,5cm; Đoa ̣n 10: kích thước 7,05m x 1,5cm có vết cắt từ đầu dây vào 50cm; Đoa ̣n 11: kích thước 6,3m x 1,2cm, từ đầu dây vào 40cm có mô ̣t vết cắt , từ đầu dây vào 50cm có mô ̣t vết cắ t; Đoa ̣n 12: kích thước 6,67m x 1,5cm có mô ̣t đoa ̣n dây nối có đườ ng kinh 1,2cm, trên dây từ đầu dây vào 30cm có mô ̣t vết
́ cắt; Đoa ̣n 13: kích thước 3,67m x 1,5cm; Đoa ̣n 14: kích thước 1,4m x 0,6cm; Đoa ̣n 15: kích thước 8,25m x 0,6cm; và 01 võ bánh xe có quấn dây , có một đầu dây lú ra ngoài kich thướ c 39cm x 0,6cm; 01 cây búa cán bằng cây dài khoảng
́ 40cm, lưỡi bằng kim loại; 01 cây cưa dài 70cm, lưỡi bằng kim loa ̣i , cán bằng cây; 01 cái mỏ neo bằng kim loại.
(Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2020).
- Lưu tại hồ sơ vụ án: 01 USB chứ a 03 đoa ̣n video thể hiê ̣n viê ̣c Chống ngườ i thi hành công vu ̣ xảy ra ngày 10/3/2020 tại Tiểu khu 139 (01 đoa ̣n video có thời lượng 42 giây; 01 đoa ̣n video có thờ i lượng 01 phút 44 giây và 01 đoa ̣n video có thờ i lượng 06 phút 51 giây).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
5. Về kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ng ười phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - Công an huyện Năm Căn; - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - Những người tham gia TT; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Khánh |